+ Reply to Thread
Page 1 of 6 1 2 3 4 5 ... LastLast
Results 1 to 10 of 57

Thread: Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu: Công và Tội?

  1. #1
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,775

      Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu: Công và Tội?
      

    Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu: Công và Tội?
    Nguyễn Đạt Thịnh




    Lịch sử sau này sẽ phán xét công và tội của ông Thiệu nhưng rơ ràng là ông vẫn có trách nhiệm rất lớn trong sự sụp đổ của chế độ VNCH mà không ai có thể phủ nhận được. Sau 33 năm, nhiều người Việt Nam vẫn nhớ đến thành quả đáng chú ư của nền đệ nhị cộng ḥa, những cố gắng của Nguyễn Văn Thiệu cùng một lúc vừa chống Cộng, vừa b́nh định Miền Nam Việt Nam để so sánh với những sai lầm, thất bại, hèn hạ của lănh đạo CSVN; nhất là khi chế độ cộng sản Việt Nam tỏ ra khiếp nhược, run sợ và lụy thuộc CSTQ và tư bản phương Tây sau nhiều năm lên án “ông Diệm & ông Thiệu đă được người Mỹ đưa lên cầm quyền, làm tay sai cho đế quốc Mỹ”. Những ǵ ông Thiệu làm được, chúng ta thực sự biết ơn và trân trọng song chúng ta cũng cần phải thấy là những sai lầm của ông Thiệu rơ ràng đă gây ra những hậu quả tai hại cho hàng chục triệu người Việt Nam sau khi CSVN chiếm được cả nước. Điều mà nhiều người muốn nghe một lời giải thích từ ông Thiệu là:
    - V́ sao ông quyết định rút quân ở vùng 1 & 2 trong những tháng đầu năm 1975 đưa đến ngày 30-4-1975?
    - V́ sao ông (và những người từng lănh đạo nền đệ nhị cộng ḥa) không hề có một hành động, cử chỉ hay lời nói nào để bày tỏ “thiện chí” với những quân-cán-chính đă ở lại trong nước & bị tù “cải tạo”, những đồng bào vượt biên ở các trại tị nạn hay vừa mới định cư ở xứ người trong suốt 20 năm (1975-1995)?
    Tiểu sử: Nguyễn Văn Thiệu sinh ngày 5 tháng 4 năm 1923, tại làng Tri Thủy, xă Tân Hải, quận Thanh Hải, tỉnh Ninh Thuận.
    Sau khi tốt nghiệp lớp 9, ông lên Sài G̣n để học nghề. Tuy nhiên, không lâu sau, ông đăng kư vào khóa đầu trường Sỹ quan quân đội Việt Nam, sau trở thành trường Vơ bị Đà Lạt. Năm 1949, ông tốt nghiệp với quân hàm Thiếu úy, tham gia binh nghiệp trong lực lượng người Việt trong quân đội Liên hiệp Pháp.
    Sau khi Pháp rút khỏi Việt Nam, năm 1955 ông gia nhập Quân lực Việt Nam Cộng Ḥa, với quân hàm Trung tá, giữ chức Chỉ huy trưởng Trường Vơ bị Đà Lạt. Đến năm 1962, ông giữ chức Tư lệnh Sư đoàn 5 bộ binh, hàm Đại tá.
    Năm 1963, ông tham gia lực lượng đảo chính lật đổ chính quyền Ngô Đ́nh Diệm. Sau đảo chính, ông được phong hàm Thiếu tướng.



    Khi tướng Nguyễn Khánh thực hiện “chỉnh lư”, nắm quyền lănh đạo chính quyền, ông được cử giữ chức Tham mưu trưởng sau đó được cử giữ chức Tổng trưởng Quốc pḥng. Năm 1965, ông được thăng Trung tướng. Cũng năm này, chính phủ của Thủ tướng Phan Huy Quát đă giải tán và trao quyền lănh đạo quốc gia lại cho Hội đồng tướng lĩnh. Hội đồng tướng lĩnh đă bầu ông giữ chức Chủ tịch “Hội đồng lănh đạo Quốc gia” và tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ tịch “Ủy ban Hành pháp Trung ương”. Ông trở thành Quốc trưởng và tướng Kỳ trở thành Thủ tướng của chính phủ mới.
    Năm 1967, Nguyễn Văn Thiệu được bầu làm tổng thống, với 38% số phiếu. Ông giữ chức này cho đến khi chính quyền Sài G̣n sắp sụp đổ vào đầu năm 1975 (Xem Sự kiện 30 tháng 4 năm 1975). Thời kỳ này chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa cần sự giúp đỡ của Hoa Kỳ nhiều hơn chính phủ của Ngô Đ́nh Diệm. Ông Thiệu là người sáng lập đảng Dân chủ (Việt Nam). Ông đă tập trung quyền lực vào ngành hành pháp, làm suy yếu quyền của ngành lập pháp (quốc hội).



    Năm 1969, Tổng thống Thiệu kêu gọi ḥa b́nh bằng cách đề nghị bầu cử bao gồm cả lực lượng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam nhưng phó Tổng thống Kỳ đă cảnh báo rằng bất kỳ nỗ lực nào để Liên minh với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đều rất nguy hiểm. Cũng trong năm này, Nguyễn Văn Thiệu đă vượt quyền hiến pháp, cụ thể là điều luật quy định sự bất khả xâm phạm của dân biểu, để bắt giữ và mở ṭa án quân sự kết án dân biểu Trần Ngọc Châu 10 năm khổ sai, sau khi vị dân biểu này đề nghị lập một đoàn gồm các nhà lập pháp Việt Nam Cộng ḥa ra Bắc để đàm phán với Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa.



    Năm 1971, Việt Nam Cộng ḥa tổ chức bầu cử tổng thống. Sau cố gắng không thành công của Nguyễn Văn Thiệu nhằm gạt Nguyễn Cao Kỳ ra khỏi cuộc đua, Dương Văn Minh rút lui không tiếp tục tham gia tranh cử, Nguyễn Cao Kỳ từ chối thế chỗ ông. Cuối cùng, cuộc bầu cử trở thành một cuộc trưng cầu dân ư mà Nguyễn Văn Thiệu đạt được 94% số phiếu.

    Năm 1973, sau khi kư kết Hiệp định Paris, Mỹ triệt thoái hoàn toàn quân đội ra khỏi miền Nam. Một thời gian ngắn sau đó Hoa Kỳ cũng cắt giảm hầu hết các kinh phí viện trợ cho chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa khiến khả năng quân sự của chính quyền bị suy giảm nặng. Tháng 3 năm 1975, sau khi Ban Mê Thuột (nay gọi là Buôn Ma Thuột) bị quân đội chính qui miền bắc đánh chiếm, quân đội miền nam phản kích thất bại, Nguyễn Văn Thiệu tỏ ra lúng túng và quyết định rút bỏ cao nguyên. Sai lầm chiến lược đó đă đưa đến những cuộc tháo chạy hỗn loạn khỏi các tỉnh Tây Nguyên và bị Quân giải phóng miền Nam tấn công gây thiệt hại nặng. Sau đó các tỉnh miền Trung cũng thất thủ.

    Khi Quân giải phóng miền Nam sắp giành được chiến thắng, ông từ chức vào ngày 21 tháng 4 năm 1975, 9 ngày trước khi Việt Nam Cộng ḥa đầu hàng vô điều kiện. Phó tổng thống Trần Văn Hương thay làm tổng thống.



    Đêm 25 tháng 4 năm 1975, Nguyễn Văn Thiệu rời Việt Nam với tư cách là đặc sứ của Việt Nam Cộng ḥa đến Đài Bắc để phúng điếu Tưởng Giới Thạch. Sau đó, ông đến Anh định cư. Ông sống một cuộc sống thầm lặng trong quăng đời c̣n lại và qua đời vào ngày 29 tháng 9 năm 2001 tại Boston, Massachusetts, Hoa Kỳ.

  2. #2
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,775

      Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu: Công và Tội?
      

    Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu: Công và Tội?
    Nguyễn Đạt Thịnh


    Nguyễn Văn Thiệu và Hiệp định Paris:


    Ông chính là người phản đối quyết liệt nhất việc kư kết Hiệp định Paris vào lúc đó, v́ theo ông việc đó sẽ làm cho Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa có được lợi thế đáng kể so với Việt Nam Cộng ḥa. Cụ thể là người Mỹ sẽ chấm dứt những cam kết và ủng hộ của ḿnh đối với Việt Nam Cộng ḥa, đồng nghĩa với việc viện trợ cho chính phủ của ông bị cắt giảm và ưu thế quân sự sẽ nghiêng về phía Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa. Nguyễn Văn Thiệu đă cố t́nh tŕ hoăn việc đồng ư kư kết hiệp định, nhưng phía Mỹ đă có quyết định dứt khoát về việc này và gây áp lực cho chính phủ của ông, trong thư của Tổng thống Nixon gửi ông vào ngày 16 tháng 1 có đoạn: “Tôi đă quyết định dứt khoát sẽ kư tắt hiệp định vào ngày 23 tháng 1 năm 1973 tại Paris. Nếu cần tôi sẽ làm đúng như nói trên một ḿnh. Trong trường hợp đó tôi phải giải thích công khai rằng chính phủ của ông cản trở ḥa b́nh. Kết quả sẽ là sự chấm dứt không tránh khỏi và lập tức viện trợ kinh tế và quân sự của Hoa Kỳ – và một sự thay đổi nhân sự trong chính phủ của ông khó mà nói trước”. Kết quả là Nguyễn Văn Thiệu chấp nhận kư kết hiệp định một cách miễn cưỡng, mặc dù đă được phía Mỹ cam kết sẽ đảm bảo sự tồn tại của Việt Nam Cộng ḥa.


    Nhận xét

    Nguyễn Văn Thiệu đă bị phê phán về sự liêm khiết trong khi tại chức tổng thống, cũng như về khả năng lănh đạo quân sự. Mặt khác, ông cũng đă có ư kiến chống đối với chính phủ Mỹ về văn bản chính thức của Hiệp định Paris, thực tế sau này cho thấy nhận thức của ông về sự thất bại có thể xảy ra cho miền Nam nếu chấp nhận văn bản đó là đúng đắn. (Cuối cùng, dưới áp lực của Mỹ, chính phủ của Việt Nam Cộng ḥa đă bị buộc kí vào hiệp định Paris).

    Vào năm 1992, ông đă lên tiếng tố cáo sự xích lại gần nhau giữa chính phủ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và chính phủ Cộng ḥa xă hội chủ nghĩa Việt Nam nhưng ít lâu sau ông lại có ư muốn tham gia vào các cuộc thảo luận ḥa giải dân tộc, điều này đă làm một số người cực đoan tức giận, c̣n tướng Trần Văn Đôn nhận xét qua hồi kư của ḿnh(xuất bản năm 1997) th́ ông Thiệu là người thức thời với chủ trương đối thoại với người trong nước.


    Đánh giá của người trong cuộc

    Tướng Cao Văn Viên, trong một cuộc phỏng vấn lúc cuối đời, đă có một số nhận xét về Nguyễn Văn Thiệu cũng như so sánh giữa Nguyễn Văn Thiệu và Ngô Đ́nh Diệm:”Mỗi người độc tài theo cách riêng. TT Diệm cai trị nước như một quan lại của thời quân chủ, ông bẩm sinh chống cộng, tự ban cho ḿnh “thiên mạng” cứu nước. …TT Diệm tự hào về dân tộc, tự đại về gia đ́nh, thích độc thoại, không chấp nhận dễ dàng sự chỉ trích. Ông chủ trương “tiết trực tâm hư ” nhưng bị ảnh hưởng nặng của gia đ́nh. C̣n ông Thiệu th́ theo đường lối “độc tài trong dân chủ”, vỏ ngoài dân chủ nhưng bên trong chi phối cả hai ngành lập pháp và tư pháp. Bàn tay sắt trong đôi găng nhung. V́ không vững kiến thức như ông Diệm, ông Thiệu chịu khó thăm ḍ ư kiến của các chuyên viên, lắng nghe, đúc kết lại để quyết định một ḿnh. TT Diệm dễ tin người xu nịnh nên dễ bị phản trắc. Ông Thiệu đa nghi Tào Tháo và không e ngại ban phát ân huệ để tạo phe cánh và chia rẽ đối phương như ông đă làm tại Quốc hội. Ông chủ trương “làm chính trị phải ĺ”. Bởi thế TT Thiệu “lật” ông Kỳ không khó và tồn tại lâu hơn TT Diệm nhưng ông không khí khái bằng ông Diệm. Ông Thiệu mưu sĩ, ông Diệm đạo đức. Những năm tại chức, Ông Thiêu bị ám ảnh bởi cái chết của TT Diệm. Đảng Cần Lao – dựa vào thuyết Cần Lao Nhân Vị – tổ chức quy củ hơn, với sự chỉ huy trực tiếp của hai ông Nhu và Cẩn, đi sâu vào Quân Đội với các quân ủy, như CS. Đảng Dân chủ yếu hơn, không dựa vào cương lĩnh vững chắc nào, chỉ có h́nh thức, được ông Thiệu thành lập để củng cố địa vị, không có ảnh hưởng trong Quân đội và quần chúng.”

    Câu nói nổi tiếng:

    . Đừng nghe những ǵ Cộng sản nói, mà hăy nh́n kỹ những ǵ Cộng sản làm!

    Ăn cơm Quốc gia thờ ma Cộng sản (Biếm chỉ Cộng sản nằm vùng khủng bố miền Nam Việt Nam trước năm 1975)
    Công đức ngàn đời con tố mẹ, t́nh nghĩa trăm năm vợ tố chồng (Biếm chỉ chính sách đấu tố của Cộng sản)
    Đất nước c̣n, c̣n tất cả; cộng sản thắng, mất tất cả.
    Tôi mà tham nhũng th́ cái chính phủ này sẽ sụp đổ chỉ trong 3 ngày!
    Nếu Hoa Kỳ mà không viện trợ cho chúng tôi nữa th́ không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau 3 giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi Dinh Độc Lập!
    Làm kẻ thù của Mỹ th́ dễ, làm bạn với Mỹ th́ rất khó.
    Sống không có tự do là đă chết.
    Mỹ c̣n viện trợ, th́ chúng ta c̣n chống cộng.(Theo vi.wikipedia.org/wiki/Nguyễn_Văn_Thiệu)



    Ngày Quân Lực 19-6-2005,Nhớ lại Cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu,và cuộc chiến chống Cọng Sản Bắc Việt xâm lăng VNCH

    Kính nhớ tất cả Anh Hùng Liệt Nữ VN, đă vị quốc vong thân.

    Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đă vĩnh viễn ra đi nhưng ư chí chống cộng quyết liệt của Ông, đă nổi bật trong những năm đảm nhiệm chức vụ lănh đạo Quốc Gia (6/1965 -4/1975) và đă chứng minh qua câu nói hùng hồn, bất hủ “Đừng nghe những ǵ cọng sản nói, hăy nh́n những ǵ cọng sản làm”.

    Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm có công giữ vững VNCH trong chín năm và Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, là người đă tiếp tục lèo lái con thuyền Quốc-Gia, chiến đấu trong điều kiện vô cùng khó khăn, dầu sôi lửa bỏng trước áp lực bành trướng của cọng sản quốc tế, trong lúc đồng minh Hoa Kỳ lúc đó, không bao giờ có thực tâm yểm trợ hữu hiệu cho QLVNCH. Nhưng với quyết tâm của TT.Thiệu, chính phủ và toàn dân, cũng như sức chiến đấu anh dũng của quân đội Miền Nam. Nhờ vậy VNCH mới tồn tại được cho tới ngày 30-4-1975.Và bây giờ dù ai có thương ghét, hoan hô hay đả đảo, th́ cựu Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu, cũng đă trở thành người thiên cổ vào ngày 29-9-2001, tại Boston, tiểu bang Massachusetts, Hoa Kỳ, hưởng thọ 78 tuổi. Ông mất để tự ḿnh chấm dứt những oan khiên, lụy phiền chồng chất. Tất cả đều là hậu quả tất yếu của mười năm làm người lănh đạo VNCH, chống lại cuộc xâm lăng của cọng sản Bắc Viê.t. Đây là một cuộc chiến bi thảm nhất của dân tộc VN, v́ phải đương đầu với toàn khối cọng sản quốc tế, được tiếp tay công khai, bởi một số ít người,luôn được ưu tiên trong xă hội miền Nam lúc đó, suốt cuộc chiến. Đây là thành phần ngụy ḥa của VNCH, gồm đám quan quyền đa số xuất thân từ lính Tây, bị thất sũng, hay vẫn đang tại chức nhưng bất măn v́ túi tham chưa đầy. Bên cạnh đó là một bọn người vong ơn bạc nghĩa,tất cả mang mặt nạ trí thức khoa bảng nhưng trái tim và cơi hồn th́ bần tiện ích kỷ, trước những người lính trận, đă hết ḷng liều chết, để bảo vệ mạng sống cho họ. Nhưng trên hết vẫn là nỗi buồn nhược tiểu VN, trước thái độ và hành động kiêu căng của đồng minh Hoa Kỳ, luôn ỷ vào đồng đô la viện trợ, bắt buộc VNCH phải phục tùng, rồi cuối cùng v́ quyền lợi riêng tư, mà trơ trẽn bán đứng bạn bè cho cọng sản Bắc Việt vào ngày 30-4-1975.

    Công hay tội của những người có liên hệ tới vận mệnh Quốc Gia Dân Tộc, dĩ nhiên ai cũng có quyền phê phán, khen chê theo ư kiến của ḿnh, nhất là hiện nay, tất cả uẩn khúc của lịch sử gần như được phơi bầy ra ánh sáng và ai cũng được đọc, biết hay nghe người khác kể. Cho nên tất cả phải dành cho lịch sử quyết đi.nh. Ngoài ra c̣n có cả bia đá và bia miệng, cũng là một phần của lịch sử, xưa nay không hề biết thiên vị ai, dù đó là vua chúa hay kẻ hèn nghèo trong xă hội.

    V́ lịch sử không bao giờ tự bẻ cong ng̣i bút và chạy theo đuôi phường mạnh, để phê phán hàm hồ. Bởi vậy mới có những câu chuyện sử về Hồ Quư Ly, Mạc Đăng Dung, Quang Trung và cả Hồ Chí Minh, Dương Văn Minh.
    Bỗng dưng cảm thấy nghẹn ngào, khi nghĩ tới số phận hẳm hiu của những vị lănh đạo quốc gia cận đại, từ Cựu Hoàng Bảo Đại, cố Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm, Trần văn Hương.. nay tới phiên cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Tất cả gần như không được ngủ yên nơi chín suối, chẳng những của bộ máy tuyên truyền cọng sản, mà tàn nhẫn hơn là do chính miệng của những người thường mệnh danh là sử gia, thật sư chỉ là những thợ viết không tim óc, thường mượn sự tự do quá trớn, để trả thù đời, sau khi đất nước trải qua một cuộc bể dâu tận tuyệt, ông xuống hàng chó và sâu bọ thành người.

    Ba mươi năm Việt Nam sống ngoi ngóp trong thiên đàng xă nghĩa, mới thật thấm thía và ư nghĩa biết bao về câu nói của người xưa, nay vẫn c̣n văng vẳng bên tai, hiển hiện trong mắt :” Đất nước c̣n th́ c̣n tất cả – Đừng nghe những ǵ cọng sản nói mà hăy nh́n kỹ những ǵ cọng sản làm “.


    Tóm lại điều quan trọng của chúng ta hôm nay, nhất là những sử gia hiện đại, có dám bắt chước Tư Mă Thiên hay ít nhất như Phạm Văn Sơn, Tạ Chí Đại Trường, Nguyễn Đức Phương, Phạm Phong Dinh.. dám đối diện với sự thật, để nói lên những điều tai nghe mắt thấy , qua sự hiểu biết của ḿnh, bằng lương tri và trái tim nhân bản VN. Những tên ngụy văn, ngụy sử, nguỵ quân tử của một thời hỗn mang điên loạn , giờ đă không c̣n thời cơ lên chức trời, để lấy giấy gói lửa hay dùng tay che mặt trời. Bởi v́ hiện nay, gần như tất cả các văn khố trên thế giới, kể cả Nga Sô-Trung Cộng..cũng đang lần hồi bạch hóa nhiều tài liệu lịch sử, có liên quan tới chiến cuộc Đông Đương, Đảng và các nhân vật cọng sản quốc tế VN liên hệ, trong đó có chân tướng Hồ Chí Minh.

    Đất nước hiện nay đang ngả nghiêng trong bảo tố v́ sự xâm lăng không tiếng súng của kẻ thù truyền kiếp Trung Cô.ng. Đảng và các chóp bu cọng sản VN đang theo gót đàn anh thuở trước, trong chính sách đu giây giữa hai kẻ thù Tàu-Mỹ, hầu t́m một chỗ dựa để kéo dài quyền lực, được xây dựng trên máu xương sông máu VN, suốt bảy mươi lăm năm qua. Nhưng thời cơ đă thay đổi rồi, vận mệnh của đất nước, sớm muộn ǵ cũng do toàn dân định đoạt, chứ không phải do VC, Tàu, Nga hay Mỹ dù VC đang nắm quyền cả nước. Họ mới chính là những nhân chứng lương tâm cuối cùng của thời đại, để trả lời, minh oan và đ̣i lại công lư danh dự, cho những người Việt Quốc Gia và người Lính VNCH, qua bao thế hệ, đă hiến thân cho đại nghĩa dân tộc.


    1-THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP CHÍNH TRỊ CỦA CỐ TT.THIỆU

    Như hầu hết vua chua từ cổ tới kim, thường vẽ chân cho rắn để tạo uy vũ cho người lănh đa.o. Thân thế của vị tổng thống đệ nhị cọng ḥa miền Nam VN, cũng bị sự huyễn hoặc và bói toán che phủ, làm cho ta không biết đâu là hư thực.

    Theo các tài liệu hiện hành, TT Thiệu sinh ngày 5-4-1923 tại Ninh Chữ, quận Thanh Hải, tỉnh Ninh Thuận (Trung phần). Nhưng cũng có nguồn tin, đa số phát xuất từ những người chống đối, cho rằng Ông Thiệu v́ tin vào các quân sư bói toán thân cận, nên đă đổi lại ngày sinh là 25-12-1924 dương lịch, nhằm ngày 18-11 năm Giáp Tư. Thật ra trong thời kỳ nhiễu nhương tại VN, việc khai trồi sụt tuổi so với năm sinh, là một việc quá đỗi b́nh thường. Song le, đối với những vị lănh đạo của đất nước, trực tiếp cầm đầu cuộc chiến đấu chống xâm lăng cọng sản Bắc Việt như cố Quốc trưởng Bảo Đại, TT Ngô Đ́nh Diệm, TT. Trần văn Hương và Nguyễn Văn Thiệu..th́ sẽ trở thành đề tài lớn để kẻ thù, những kẻ đố kỵ,ganh ghét, vin vào đó, để mỉa mai xuyên ta.c. Nhưng chuyện này chỉ có thể xảy ra ở Miền Nam trước năm 1975, chứ tuyệt đối, vĩnh viễn và sẽ chẳng bao giờ có thể xảy ra tại Miền Bắc trước tháng 4-1975 và cả nước từ đó tới nay. Nhiều danh từ và các câu chuyện trào phúng, hạ bạc như ‘ Năm Chuột, Tám Thẹo, Năm Lỳ..’, quá ư là tàn nhẫn, xuất hiện trên báo chí, sách vở và ngay cả những cái được gọi là sử liệu.

    Nhưng đó cũng chỉ là một thiểu số với ác ư có mục tiêu. Riêng trong tâm tư của hầu hết quần chúng thầm lặng, th́ sự thay đổi trên nếu có, cũng chẳng qua là một thái độ hợp thời, một hành động tâm lư, nhằm gây ấn tượng và t́nh cảm tốt đẹp đối với mọi người, khi vị nguyên thủ quốc gia, có chân mạng đế vương, xứng đáng nhận lănh trọng trách lănh đạo đất nước.

    Về thân thế của TT Thiệu, hiện cũng có nhiều tài liệu đề cập tới nhưng tựu trung đều viết, Ông xuất thân từ một gia đ́nh nghèo nhưng cũng đă theo học hết các bậc tiểu và trung học tại Thị Xă Phan Rang, tỉnh Ninh Thuâ.n. Sau đó vào Sài G̣n, học Trường Kỹ Thuật Đổ Hữu Vị (sau đổi là trường Cao Thắng) và cuối cùng là Trường Hàng Hải Dân Sự.

    Theo Nguyễn Khắc Ngữ, trong tác phẩm ” Những ngày cuối cùng của VNCH “, xuất bản sau năm 1975 tại Canada, th́ ông Thiệu :
    - 1948, theo học khóa sĩ quan trung đội trưởng tại Trường Sĩ Quan Đập Đá ( Huế). Căn cứ vào kỷ yếu của Trường Vỏ Bị Quốc Gia Đà Lạt, th́ khóa này chính là Khóa 1 Phan Bội Châu của trường. Năm đó khóa này có 63 SVSQ theo học và thủ khoa là tướng Nguyễn Hữu Có, người mà mới đây, được VC cho lên đài truyền h́nh phỏng vấn, cùng với Nguyễn Hữu Hạnh..trong dịp kỷ niệm 30 năm, mừng VN được sống trong thiên đàng xă nghĩa, sau khi đất nước đă chấm dứt chiến tranh.
    - 1949 măn khóa, Ông Thiệu về phục vụ tại Miền Tây Nam Phần, rồi được sang tu nghiệp quân sự tại Coequidan. Ông cũng đă phục vụ trong các đơn vị tác chiến, của Quân Đội Quốc Gia tân lập, tại Hưng Yên (Bắc Phần), do Trung Tá Dương Quư Phàn chỉ huy. Lúc đó, cùng chung đơn vị có Cao Văn Viên, cả hai mang cấp bậc Trung Úy.
    - 1955 là Tư lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh tại Huế.
    - 1958 thăng cấp Trung Tá, là Chỉ Huy Trưởng Trường Vơ Bị Quốc Gia Đà Lạt.
    - Được theo tu nghiệp các khóa quân sự cao cấp về tham mưu, chính trị tại các quân trường của Hoa Kỳ như Port Leavenwort, Fort Blifs cũng như Okinawa (Nhật).-1959 tới 1963 : Tư lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh, đồn trú tại Biên Ḥa.
    -1/11/1963 tham dự cuộc binh biến và được thăng Thiếu Tứớng, làm Tư Lệnh Quân Đoàn IV.
    - Ngày 18/1/1965 thăng Trung Tướng, là Đệ Nhị Phó Thủ Tướng trong Nội Các Trần Văn Hương.
    - Ngày 19-6-1965, quân đội VNCH chánh thức đổi thành Quân Lực VNCH và ngày đó đă trở thành NGÀY QUÂN LỰC hằng năm cho tới nay, dù Miền Nam đă bi cọng sản Bắc Việt xâm lăng cưỡng chiếm tháng 5-1975. Ngày này, Trung Tướng Thiệu, được Hội Đồng Quân Lực, cử làm Chủ Tịch Ủy Ban Lănh Đạo Quốc Gia (Quốc Trưởng).
    -Ngày 4/9/1967 đắc cử Tổng Thống Đệ Nhị Cộng Ḥa Miền Nam. Thiếu tướng Không Quân Nguyễn Cao Kỳ là Phó Tổng Thống. Trong nhiệm kỳ này, chính phủ VNCH đă thực thi được nhiều cải cách quan trọng về giáo dục, nông nghiệp.



    - Tháng 4/1972 tái đắc cử Tổng Thống lần thứ hai, cụ Trần Văn Hương là Phó Tổng Thống.
    - Từ đầu năm 1973, qua áp lực cúp viện trợ đồng thời với những bức thơ của Tổng Thống Mỹ là Nixon, hứa hẹn sẽ yểm trợ và can thiệp khi VC xâm lăng Miền Nam, nên TT Thiệu đă bắt buộc, kư vào Bản Hiệp Ước Ngưng Bắn tháng 2-1973, dù đă biết rơ ràng đây là văn tự mà người Mỹ kư bán VNCH cho khối cọng sản quốc tế, để đánh đổi quyền lợi của nước ḿnh.
    -Ngày 26/3/1973 TT. Thiệu ban hành Luật Người Cầy Có Ruộng. Cũng từ đó cho tới lúc tàn cuộc chiến, người Mỹ đă gần như chính thức bỏ rơi miền Nam. TT Thiệu trước cảnh thù trong giặc ngoài, thêm CIA và điệp viên cọng sản nằm vùng ngay trong Dinh Độc Lập phá hoại, nên đă phải từ chức vào lúc 19 giờ 30 đêm 21-4-1975. Phó TT Trần Văn Hương lên thay thế nhưng cũng chỉ được vài ngày, rồi giao việc nước lại cho Đại Tướng Dương Văn Minh, để ông đầu hàng cọng sản vào trưa ngày 30-4-1975.
    Đêm 26-4-1975, TT Thiệu cùng Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, được Hoa Kỳ giúp đỡ phương tiện, di tản tới Đài Loan. Sau đó Ông tới định cư ở Anh Quốc và cuối cùng cư ngụ tại Boston-Hoa Kỳ.vanthieu
    -Ngày 29/9/2001 Ông ngă bệnh và qua đời, hưởng thọ 78 tuổi.Theo báo chí loan tải cũng như video ghi lại, th́ đám táng của cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, có rất nhiều người tham dự, với đủ mọi thành phần . Nhiều người đă đến tận Âu-Úc, Canada và các tiểu bang xa xôi, thuộc các đảng phái chính trị, chính quyền, các quân binh chủng VNCH. Hiện diện trong suốt thời gian tang chế, có 10 cựu tướng lănh QLVNCH như Ngô Quang Trưởng, Phạm Quốc Thuần, Lê Minh Đảo, Đào Duy Ân (KQ), Phan Ḥa Hiệp, Lâm Ngươn Tánh (HQ), Trần Bá Di, Văn Thành Cao và Mạch Văn Trường. Ngoài ra Ông c̣n được vinh hạnh, khi được đồng đội, đồng bào phủ lá quốc kỳ cờ vàng ba sọc đỏ, của Quốc Dân VN trên quan tài, cũng như đă được Đức Hồng Y, Tổng Giáo Phận Boston, đến thăm viếng và ban phép lành, trước khi xác thân được hỏa táng.



    Qua lời kể của Băng Đ́nh, cựu trưởng phái đoàn báo chí Phủ Tổng Thống, trên tạp chí Thế Giới Ngày Nay số 168 và Thiếu Tá Châu Bích, từng phục vụ nhiều năm tại Dinh Độc Lập, hiện sống tại Hạ Uy Di. Cả hai đều có nhiều cơ hội gần gũi với vị nguyên thủ quốc gia, khi công tác, th́ TT Thiệu là người có tính t́nh rất b́nh dân mộc mạc, ăn nói huỵch toẹt theo nếp sống của người miền biển PhanRang-Phan Thiết, không cần màu mè, mà chỉ muốn nói sao cho mọi người mọi giới, thông cảm là đủ rồi. Nhưng ngược lại khi muốn phổ biến văn bản tới quốc dân, cũng như người ngoại quốc , ông lại tỉ mỉ cẩn thận từ nội dung tới h́nh thức. Ông rất coi trọng thể diện quốc gia và cá nhân, nhất là không bao giờ sử dụng ngoại ngữ dù ông rất giỏi, chứ không phải như những tin đồn ác ư, nói v́ sợ ám sát nên ông rất sợ và lệ thuộc người Mỹ trong mọi phương diện.
    Thật sự hoàn toàn trái ngược, căn cứ theo những nguồn tư liệu ghi lại, thái độ của TT Thiệu đối với TT Nixon, trong các cuộc Họp Thượng Đỉnh tại Honolulu và Midway..Nhưng quyết liệt nhất là đối với Kissinger tại Dinh Độc Lập, khi đương sự tới Sài G̣n vào những ngày cuối năm 1972, để bắt buộc VNCH kư vào bản hiệp ước ngưng bắn.

    Tóm lại, TT Thiệu là một trong những nhà lănh đạo VNCH, có lập trường kiên quyết chống cọng sảnxăm lăng miền Bắc. Hành động này chẳng những được thể hiện từ lúc c̣n có thực quyền, mà vẫn tiếp tục trong bước đường lưu vong khắp nẻo đường viễn xứ.

    Từ sau khi LX và khối cọng sản quốc tế tan ră gần hết, khiến cho t́nh h́nh thế giới rối loạn khắp nơi. Khác với quan niệm xưa trong giới truyền thông tây phương và VNCH, chỉ cần ngồi một chỗ, hay tới các thư viện ngoại quốc, đọc sử liệu, rồi từ đó mao tôn cương ng̣i bút, theo sự thương ghét mà khen chê trên báo-sách. Ngày nay những người làm truyền thông phương tây, không cần là nam giới mà ngay cả những nữ phóng viên chiến trường, cũng đă từng trải qua những giây phút hiểm nguy nồi đầu súng, chẳng khác ǵ người lính trận tại các điểm nóng Kosovo, Grozny, Islamabad, Peshawar, Kabul, Kunduz, Iraq..Nhửng nữ phóng viên chến trường Christiane Amanpour (CNN), Jacky Rowland (BBC), Maggie O’Kane (Ireland), Marie Colvin (Hoa Kỳ)..đă trở thành thần tượng của các nhà báo, v́ phong cách nói thật, khác hẳn với những đồng nghiệp thuở trước.
    Như các phóng viên chiến trường ngày nay, Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu ngày xưa, luôn chứng tỏ là một tướng lănh gan lỳ , biết chia xẻ với đồng đội nhũng hiểm nguy nơi chiến trường. Bởi vậy ông luôn có mặt ngay trong những miền lửa khói, đẫm máu và tàn bạo nhất trong quân sử VN và thế giới, giữa lúc vừa tạm ngưng tiếng súng , bom đạn, pháo kích như hồi Tết Mậu Thân (1968), Mùa hè đỏ lửa 1972 tại Tri.-Thiên, B́nh Định, Kon Tum, An Lộc..và nhiều địa danh hiểm ác nhất, khắp bốn vùng chiến thuật, tại miền nam VN, trong cuộc chiến Đông Dương lần thứ 2 (1955-1975). Cảm động nhất đối với tâm tư của những người lính trận, trẻ tuổi xa nhà, là gần như tất cả các dịp xuân về, ông đều tới các tiền đồn nguy hiểm, xa xôi hẻo lánh hay các đơn vị nghĩa quân, để cùng ăn tết với họ, giữa bom đạn thay tiếng pháo mừng xuân. Thử đếm trên đầu ngón tay, suốt cuộc chiến, đă có bao nhiêu vị tướng lănh miền nam,, dám đem cái sinh mạng kim cương vàng ṛng, để giỡn mặt với tử thần như Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ?

    Đặc biệt, trong cuốn video ghi lại cuộc họp mặt của tổng thống Thiệu và đồng hương người Việt tị nạn tại Colorado năm 1993, vào dịp ra mắt ” Ủy Ban hậu tái thiết cho một VN dân chủ “. Trong dịp này, cựu TT Thiệu đă tuyên bố trước cử tọa, là ḿnh đă không c̣n xứng đáng để tiếp tục giữ bất cứ một chức vụ lănh đạo nào, nếu có trong tương lai. Hơn nửa trong cộng đồng Tị Nạn VN hải ngoại, hiện có rất nhiều người tài đức và xứng đáng hơn ông nhiều,đă và đang dấn thân lèo lái con thuyền quốc gia, trong ḍng sông lịch sử. Cuối cùng, ông thành thật gửi lời tạ tội và xin lỗi quốc dân, v́ đă thất hứa bỏ nước ra đi trước ngày 30-4-1975, cũng như v́ hoàn cảnh bắt buộc, đă phải cắn răng ban hành những mệnh lệnh quái ác trong năm 1975, làm cho hằng triệu đồng bào và đồng đội phải chết thảm thiết, oan khiên, đưa đất nước sớm lọt vào ṿng nô lệ của đệ tam quốc tế.

    Chính những điều kể trên, khiến cho những người lính già VNCH, từng chiến đấu ngoài mặt trận lúc đó, nay may mắn được sống sót, sau khi đă nếm đủ đắng cay nhục hận, nơi mười hai tầng địa ngục trong cơi thiên đàng xă nghĩa VN..càng thấy gần gũi hơn với vị lănh đạo của ḿnh, ít ra trong việc ông đă cùng đồng chung chịu khổ với người lính trận tại chốn sa trường. Ngày nay qua núi sử liệu mọi phía được công khai mở rộng và quan trong nhất là mới đây, những nhân vật từng có liên hệ tới cuộc chiến VN, trong cũng như ngoài nước, bạn hay thù, như TT Nixon, ngoại trưởng Kissinger, Hoàng Đức Nhă, Nguyễn Tiến Hưng, Nguyễn Phú Đức, Lâm Lễ Trinh, Bùi Tín, Vơ văn Kiệt, Lư Quư Chung..giúp ta thẩm định lại, một cách công bằng và can đảm, khi xuống bút ghi lại những lầm lỗi to lớn của ông, vào những giờ phút nguy ngập của đất nước, như bất nhất ra lệnh bỏ cao nguyên, HuếĐDà Nẳng, triệt thoái QDI-II..làm tan vỡ nửa lực lượng quân đội và mất vào tay giặc hơn 3/4 lănh thổ. Tệ nhất là ông cũng giống như Đại tướng Dương Văn Minh, không dám ở lại cùng lính và dân, khi ‘ thành mất th́ chủ tướng phải chết theo thành’, để muôn đời sống trong thanh sử như các vi nam nữ anh hùng dân tộc Trần B́nh Trọng, Nguyễn Biểu, Lê Lai, Vơ Tánh, Ngô Tùng Chu, Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Thái Học, Nguyễn Thị Giang, Nguyễn Khoa Nam, Phạm văn Phú, Lê văn Hưng, Trần văn Hai, Lê Nguyên Vỷ, Hồ Ngọc Cẩn..như lời hứa hẹn trong buổi lễ bàn giao chức vụ Tổng Thống VNCH cho Phó TT. Trần văn Hương. Nhưng dù tài liệu có hé mở cách nào chăng nửa, việc bắt từ chức và bỏ nước ra đi của TT Thiệu, cho tới nay c̣n khuya các sử gia biết hết sự thật, ngoại trừ các chóp bu Mỹ trong Ṭa Bạch Ốc, ông Thiệu, Cụ Hương, ông Dương văn Minh, mới có đủ tư cách và thẩm quyền trả lời. Tiếc thay người Mỹ có bao giờ thành thật để ai tin ?c̣n tất cả các vị trên nay đă trở thành người thiên cổ, không nói được và cũng không lưu lại cho hậu thế một lời nào. Riêng Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, th́ vẫn như thuở nào, im lặng mặc cho miệng đời dị nghị. Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Cao Văn Viên có nói và viết nhiều, nhưng cũng chỉ là cái tôi muôn đời nay ai cũng biết. Tóm lại theo Nguyễn Văn Ngân, nguyên phụ tá chính trị lâu năm tại Phủ Tổng Thống, một cộng sự thân tín, đă bị chính ông Thiệu bắt giam, v́ nghi kỵ phản bội, đả phát biểu rằng ‘ Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trong mười năm tại Dinh Độc Lập, đâu có khác ǵ ngồi trên bàn chông núi đao, v́ luôn luôn phải đối phó với thù trong giặc ngoài và chính cả những người thân tín quanh ḿnh, mà một số không ít, nếu chẳng là điệp viên của đệ tam cọng sản Hà Nội nằm vùng, th́ cũng làm việc cho CIA Mỹ hay bọn gian thương bất lương Ba Tàu Chợ Lón. Tất cả đă cùng hiệp đảng với đồng đô la viện trợ, góp phần lớn làm sụp đổ VNCH ‘. Về trách nhiệm đối với cuộc binh biến ngày 1-11-1963, cũng theo các nguồn sử liệu hiện có, th́ lúc đó ông Thiệu, tuy là đại tá tư lệnh SD5BB nhưng đối với hàng tướng lănh quyền cao chức lớn, tại Bộ TTM cũng như Bộ TL/QD3, th́ ông cũng chỉ là một thuộc cấp phải thi hành lệnh theo trên, đúng kỷ luật quân đội. Hơn nửa, ông chỉ ra lệnh tấn công Dinh Gia Long, khi biết chắc TT Diệm không c̣n trong phủ tổng thống. Bởi vậy sau này, ông thường tỏ thái độ ân hận, v́ ḿnh có quân trong tay nhưng lại bất lực không cứu nổi tổng thống trong lúc nguy khốn. Cuối cùng người đă phải chết thảm trong ḷng chiếc thiết vận xa M113 mang số 80989, bởi sát thủ của Dương văn Minh là Nguyễn văn Nhung. Do ḷng kính trọng trên, nên suốt thời gian làm tổng thống VNCH, ông Thiệu và gia đ́nh luôn luôn tham dự các thánh lễ tưởng niệm cố tổng thống Ngô Đ́nh Diệm.

  3. #3
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,775

      Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu: Công và Tội?
      

    Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu: Công và Tội?
    Nguyễn Đạt Thịnh



    2-BA NĂM XÁO TRỘN (1964-1967):
    Nền đệ nhất cộng ḥa miền nam (1955-10/1963), tuy đă phạm nhiều lầm lỗi nhưng vẫn là một thể chế hợp hiến và trên hết có tự do dân chủ, đă mang lại phần nào ấm no hạnh phúc cho đồng bào miền nam, trong lúc đất nước đang bị tai họa chiến tranh. Bởi vậy nếu đem so sánh, th́ miền nam lúc đó c̣n hơn nhiều quốc gia đương thời. Trong chín năm dài (1955-1963), VNCH đă ngăn chận hữu hiệu cuộc xâm lăng trắng trợn của cọng sản đệ tam quốc tế, đem lại an ninh hầu như khắp lănh thổ Nam VN, từ Bến Hải vào tới Cà Mâu, chấm dứt sự hỗn loạn, do hậu quả và tàn tích của 100 năm bị thực dân Pháp đô hộ. Rồi cuộc binh biến dành ngai vàng ngày 1-11-1963, gần như làm đổ vở tất cả những ǵ mà đồng bào đă có. Thật sự không có ǵ cả như lời hứa hẹn của các lănh tụ và giả sử nếu có, cũng chẳng qua là cái men say chiến thắng, cùng sự tự phong gắn lon lá cho nhau của những người trong cuô.c. Cái trơ trẽn của nhân t́nh, khiến Lư Chánh Trung phải hạ bút một cách cay độc, khi nói tới hai chữ cách mạng, đă khiến cho mọi người phải ngao ngán tủi ḷng, khi nghĩ về những cuộc cách mạng trong cận sử, qua các năm 1945, 1963 và cuối cùng là cuối tháng 4-1975. Tất cả đều cùng mang chung cái bản chất dối trá, mị dân bằng lớp son hào nhoáng bên ngoài, chỉ nhằm ru ngủ và thỏa măn một vài đ̣i hỏi nhất thời của đám đông. Tóm lại cuộc binh biến ngày 1-11-1963 đă mở đầu cho ba năm xáo trộn chính trị tại VNCH. Tất cả cũng chỉ v́ tranh giành địa vị, lợi lộc và chiếc ngai vàng ba chân đang bỏ trống, nên phải chỉnh lư, đảo chính, xuống đường..cho tới khi hai tướng Thiệu và Kỳ lên nắm quyền, dù nội bộ có tạm yên nhưng cũng là lúc lửa sân si bốc cháy rực trời, suưt chút nữa để Nam VN lọt vào tay cọng sản quốc tế Hà Nội vào thời điểm đó.
    Hỡi ơi chỉ có ba năm sau khi Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm nằm xuống trong ḷng chiếc thiết vận xa của ta, do những viên đạn cũng của phe ta, th́ Miền Nam đă có tới sáu chính phủ liên tiếp cầm quyền, trị nước. Đó là Nguyễn Ngọc Thơ, Nguyễn Khánh, Trần Văn Hương, Nguyễn Xuân Oánh, Phan Huy Quát và Nguyễn Cao Kỳ. Rồi th́ biểu t́nh và thiên tai tại miền Trung. Tiếp theo là cuộc nổi loạn của bốn trại Lực Lượng Đặc Biệt Thượng tại Darlac. Nhưng trên hết vẫn là cái vô t́nh, vô luân, vô nghĩa của bọn giàu sang no cơm ấm cật, rửng mỡ nên cứ đứng núi này trông núi nọ, luôn luôn bốc lửa bỏ vào kho xăng hỗn loạn, đang ngùn ngụt cháy, làm cho VNCH gần như vô chính phủ, làm cho nền pháp trị có sẵn từ trước, đă bị đám loạn tướng, kiêu tăng và bọn thầy tu ích kỷ, toa rập phá vỡ toàn bộ. Chính cái bi thảm này, mới là nguyên nhân then chốt đưa tới sự sụp đổ của đất nước vào tay cọng sản
    Theo sử liệu, trong ba năm xáo trộn chính trị, th́ thời kỳ Nguyễn Khánh tham chính, từ cuối tháng 1-1964, gây chỉnh lư để hạ bệ các tướng Big Minh, Đôn, Kim, Đính, Xuân..cho tới khi bốc nắm đất Sài G̣n, bỏ quê hương tới Mỹ sống kưu vong, là chuỗi ngày hỗn mang nhất trong 20 năm tồn tại của VNCH.
    Ngày 4-9-1967, liên danh quân đội của hai tướng Thiê.u-Kỳ đắc cử tổng thống, mở đường cho sự ổn định của nền đệ nhị cọng ḥa Miền Nam (1967-1975). Ngày nay dù ai có gọi bằng một danh xưng nào chăng nửa, th́ thực tế đây là thời kỳ an ninh trật tự xă hội đă được văn hồi khắp nước, tạm thời chấm dứt những xáo trộn trầm kha trên sân khấu chính trị. Nhờ vậy nên đă giúp cho QLVNCH an tâm và đoàn kết trở lại như xưa, tạo nên sức mạnh, ngăn chống được giặc Bắc xâm lăng. Cuộc chiến c̣n đang tiếp diễn, th́ năo nùng thay Dương Văn Minh lên thay ngựa, đă dùng quyền lực, bắt người lính buông súng ră ngũ, để đầu hàng cọng sản quốc tế vào trưa ngày 30-4-1975.
    Tóm lại trên đường tiến vào Dinh Độc Lập năm 1967, tổng thống Thiệu đă phải c̣ng trên lưng, cái gia tài Mẹ VN hấp hối và rỉ máu, do Dương Văn Minh và Nguyễn Khánh phá sản, trong cảnh tan hoang của buổi chợ chiều thời Ngô triều. Nói về thời kỳ nhiễu nhương trên, Nguyễn Hữu Thọ, chủ tịch bù nh́n của cái mật trận ma, tay sai Hà Nội, sau khi xâm lăng cưởng cướp được Miền Nam , đă phán “ Chính nhờ những cơ hội trên trời rớt xuống như thế này, nên CSBV mới chuyển bại thành thắng và cướp được VNCH “. Bởi vậy khi nhắc tới thời kỳ ổn định của Miền Nam, từ 1967-1975, ai cũng bảo đó là phép lạ.

    3-TỔNG THỐNG THIỆU VÀ CUỘC CHIẾN CHỐNG CSBV TỪ 1967-4/1975:
    Mổi lần nghỉ tới cảnh nhà tan người chết, nổi đói nghèo của đồng bào và niềm đau xót tủi nhục trước cảnh cọng sản VN công khai bán đất dâng biển, làm đầy tớ cho ngoại bang như hôm nay, khiến cả nước đều khinh ghét bọn việt gian, đội lớp trí thức và tôn giáo thời VNCH. Đây mới chính là những vết dao trí mạng đâm bồi thêm sau lưng người chiến sĩ Quốc Gia, giữa lúc họ đang hứng chịu bom đạn nơi sa trường. Trong hoàn cảnh hỗn mang đó, ông Nguyễn Văn Thiệu xuất hiện đúng lúc trên sân khấu chính trị Miền Nam, qua tầm vóc dù nay có bị thiên hạ ganh tị, bới móc chửi rủa chê bai. Nhưng lúc đó, thật sự ông vẫn hơn nhiều người đương thời và quan trong hơn hết, là lập trường chống công sản rất kiên quyết, không bao giờ khoan nhươ.ng. Những yếu tố trên rất phù hợp quan điểm và chính sách của Hoa Kỳ lúc đó, là muốn chiến thắng cọng sản đệ tam quốc tế, đang xâm lăng thôn tính VN.Do trên, ông đă được sự ủng hộ thành thật ban đầu của Mỹ. Nhờ vậy Tổng thống Thiệu mới ổn định được thời cuộc và giữ vững được MiềnNam, cho tới cuối tháng 4-1975.
    Mới đây cựu ngoại trưởng Mỹ là Kissinger, một nhân vật bị mang tiếng là đă toa rập với cố Tổng thống Hoa Kỳ Nixon, dùng Hiệp định ngưng bắn Paris năm 1975, để bán đứng Đồng Minh của ḿnh là nước VNCH, cho cọng sản đệ tam quốc tế. Ông đă viết trong tác phẩm “ Diplomacy “, rằng Hoa Kỳ v́ muốn cứu ḿnh, nên bắt buộc đă phải phản bôi Miền Nam. Cũng v́ vậy tới nay, nước Mỹ đă phải trả một giá thật đắt với nhân loại, qua cái gọi là ‘ Hội Chứng Chiến Tranh VN ‘, về tội bất nhân, bất nghĩa, bất tín và hành động kẻ cướp của bọn con buôn chính trị hoạt đầu. Tóm lại cũng nhờ kinh nghiệm Mỹ phản bội VNCH, Đài Loan nên nhiều nước đồng minh của Hoa Kỳ, đă phải xét lại t́nh bạn cũng như sự hợp tác với kẻ bội tín, đưa tới hậu quả ngày nay là chẳng một ai muốn hợp tác thật sự với một quốc gia không có t́nh nghĩa, mà chỉ biết tính toán trong cuộc chơi, sao cho cả hai cùng được lơ.i. Trung Cộng, Đài Loan, Iraq, Iran, Bắc Hàn..là những bằng chứng đồng thời cũng là một bài học dạy khôn người Mỹ, đừng tưởng ai cũng hiền và cứ thất hứa lật lọng như VNCH ngày trước. Đối với những nước này, kể cả VC ngày nay, trong canh bài bịp, người Mỹ chừng nào mới lên mặt ngồi chung một chiếu với chúng, nói chi tới chuyện gạt người ?
    Cũng trong tác phẩm trên, Kissinger có đề cập tới sự sai lầm trầm trọng của Hoa Kỳ, khi t́m đủ mọi cách vào tham chiến tại Nam VN nhưng chỉ chiếu đấu bằng lư thuyết tại bàn giấy mà hầu như chẳng bao giờ thèm để ư tới thực tế chiến trường, nên bắt quân đội phải đánh giặc theo chủ đích có sẳn trong đơn đặt hàng của bọn siêu quyền lực lái súng, phần lớn là bọn Mỹ trắng gốc Do Thái, thời nào cũng nắm vận mệnh của Hiệp Chủng Quốc bằng thế lực kim tiền. Tóm lại đây là chiến thuật đầu voi đuôi chuột, chỉ nhằm phơi bầy lớp hào nhoáng bên ngoài và trên hết là thái độ độc tôn của kẽ có tiền, có học, luôn muốn người khác, cứ phải nhắm mắt làm theo ư ḿnh, nếu cải hay phản đối lại, sẽ bị trù dập, ám sát hay dùng sử để bội bác hăm ha.i. Tất cả sự thật, mới đây đă được Nguyễn Tiến Hưng bật mí đủ trong tác phẩm ‘ Khi Đồng Minh tháo chạy ‘, xác nhận hiện tượng ‘ Đưa quân vào, rút lính ra, dựng lănh đạo, giết tổng thống ‘ của người Mỹ đă và đang làm, không riêng ǵ tại VN mà hầu như khắp mọi nơi trên thế giới.
    Đây cũng là căn bệnh trầm kha của xă hội Mỹ, quen sống chủ quan trong cảnh thừa mứa tự do và vật chất, đến lúc sự lạc quan sụp đổ, th́ chán nản tuyệt vọng, vội buông xuôi tất cả để tháo cha.y. Tệ nhất là muốn rửa mặt với mọi người, Hoa Kỳ lại dựng thêm lư do ‘ MIỀN NAM KHÔNG ĐÁNG ĐƯỢC CỨU VỚT ‘. Nhưng dù biện bạch thế nào chăng nửa, th́ người ta cũng không thể không nhắc tới vấn đề nhân đạo, trong một cuộc chiến lâu dài, tiêu bao..với một kẻ thù cuồng sát như cọng sản Bắc Việt, coi mạng dân rẽ hơn lá rụng, con sâu cái kiến. Bởi vậy từ Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Vơ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng tới các chóp bu lănh đạo Bắc Bộ Phủ ngày nay, đều giống nhau, chỉ biết lấy máu xương con người vô tội, làm phương tiện, để đạt cứu cánh sau cùng, bât chấp thủ đoạn, nhân t́nh..nên nói chi tới ḷng ái quốc và sự thương dân. Bao nhiêu tội ác thiên cổ của đảng cọng sản suốt bảy mươi lăm năm qua, chỉ riêng hành động bắt trẻ vị thành niên cầm súng, dùng chế độ hộ khẩu công an khu vực, để kềm kep khủng bố người Việt miền Bắc, trong suốt thời gian chiến tranh. V́ coi mạng người Việt nhỏ hơn cây kim sợi tóc, nên lúc nào VC cũng áp dung binh pháp của Nga-Tàu dựa theo Clausewits, lấy thịt đè người, xiềng bộ đội trong tăng pháo hay cho lính uống thuốc kích thích trước khi xung trâ.n. Chiếu đấu với một kẻ thù ĺ lợm, bất nhân, mất nhân tính như VC, làm sao Hoa Kỳ và VNCH không bại trận ?. Cho nên dù có tranh luận thế nào chăng nửa hay đổ tội cho ai, cuối cùng cũng phải đi tới kết luận, như cố bộ trưởng tư pháp Mỹ Robert. Kennedy từng nói ‘LỖI LẦM TẠI VN NHIỀU TỚI NỔI, BẤT CỨ AI CÓ LIÊN HỆ, CŨNG PHẢI ÍT NHIỀU PHẠM PHẢI ‘.Nói về chiến tranh VN hay đúng hơn là cuộc chiến Đông Dương lần thứ 2 (1955-1975), các nhà sử học trong cũng như ngoài nước, hay lấy trận Ấp Bắc (Định Tường) đầu năm 1963, cuộc triệt thoái của Quân Đoàn II tại Cao Nguyên Trung Phần và QD I ở HuếĐDà Nẳng, vào những ngày đầu tháng 4-1975, làm những sự kiện lịch sử quan trọng nhất, để phê b́nh các cấp lănh đạo đầu nảo của VNCH tại Dinh Độc Lâp cũng như ở các Quân Khu. Chính những trung tâm quyền lực này, đă lợi dụng chức vụ và kỷ luật quân đội, để ngăn cản, làm rối loạn cùng sự tiêu hao việc thống nhất chỉ huy tại chiến trường. Ngoài ra không có kế hoạch thích ứng, để giải quyết những khó khăn nguy ngâ.p. Tệ hơn hết là sự chia rẽ, bất hợp tác trong nội bộ, khiến không mấy ai thực ḷng nghĩ tới đại sự của quốc gia dân tô.c. Cũng may, QLVNCH c̣n có rất nhiều sĩ quan các cấp tài giỏi, đạo đức, có t́nh yêu nước nồng nàn và những chiến sĩ can trường trong mọi quân binh chủng, kể cả những người lính Địa Phương Quân, Nghĩa Quân, Xây Dựng Nông Thôn, Cảnh Sát Dă Chiến..Chính nhờ họ, mà VNCH mới tồn tại được trong hai mươi năm khói lửa, nhờ họ nên nhiều người có cơ hội thăng tiến thành cấp tướng, tá, khoa bảng, trí thức, văn nhân nghệ sĩ..nay đang khoe mặt với đời ô trọc, biển dâu, tôn ti đảo lộn, nhiều lúc đối diện, không biết đâu mà ṃ, không nhận rơ được ai là thằng, là ông v́ ai cũng tài giỏi và có chức phận hết. Sau rốt cũng nhờ họ, nên tránh được nhiều tổn thất về nhân mạng cho thường dân cũng như binh lính miền Nam. Đây chính là nhận xét của nhà quân sử nổi tiếng, S.R Thompson, rất nhiều lần không tiếc lời ca tụng, sự thiện chiến và ḷng can đảm của người lính bất hạnh VNCH.
    Từ tháng 2-1965, v́ t́nh h́nh hổn loạn, nên Tổng thống Mỹ là L.Johnson đă ra lệnh oanh tạc Bắc Việt, đồng thời gởi quân bộ chiến vào giúp Nam VN. Nhiều đồng minh của Mỹ lúc đó như Úc, Tân Tây Lan, Phi Luật Tân, Thái Lan, Đài Loan, Đại Hàn, củng tham dự cuộc chiến. Chính v́ lư do này, mà trong suốt cuộc chiến và tới ngày nay, VC cũng như đám lục b́nh ăn cơm quốc gia thờ ma cọng sản, đă không ngớt rêu rao tuyên truyền rằng VNCH rước voi dầy mă tổ, bán nước, giết dân Viê.t. Nhưng rồi tất cả đă hiện nguyên h́nh sau ngày 1-5-1975, đă trở thành những chuyện khôi hài cười ra nước mắt, qua các vụ bán Hoàng Sa, Trường Sa, đất đao biên giới, biển, lănh hải cho Trung Cộng, cùng hằng ngàn câu chuyện bi thảm trào phúng của xă nghĩa, đủ xác nhận ai là kẻ bán nước hiện nay.
    Riêng câu chuyện rước voi vào dầy mă tổ Hồng Lạc, cũng là câu chuyện lâm ly nức nở, hiện cũng được mọi phía đào xới phơi bầy ra ánh sáng. Theo tài liệu của C. Jian trong ‘ China and VN War 1945-1975 ‘ và gần đây là ‘ Đem giữa ban ngày ‘ của Vũ Thư Hiên, vào ngày 16-5-1965, chính Hồ Chí Minh lúc đó là chủ tịch nước VN Dân Chủ Cộng Ḥa (Cọng sản Bắc Việt), đă yêu cầu các nước trong khối cộng sản đệ tam quốc tế như Liên Xô, Trung Cộng, Đông Đức, Đông Âu, Bắc Hàn, Cu Ba..gởi quân vào tiếp viện miền Bắc. Hưởng ứng lời kêu gọi trên, sốt sắng nhất là Mao Trạch Đông, đă đưa ngay Hồng Quân vào giúp Hồ cứu nước. Tính tới cuối năm 1968, Trung Công quân viện cho Hà Nội bảy Sư Đoàn Công Binh và 16 SD Pháo đủ loại, kể cả súng cao xạ pḥng không. Quân Tàu đỏ đóng khắp nơi, từ biên giới Hoa-Lào-Việt vào tới tận vỹ tuyến 20 ở Thanh Hóa. Tháng 3-1969, do sự bất ḥa giửa hai nước về vấn đề Lào-Kampuchia, nên Mao đă rút hết Hồng quân về nước. Ngoài ra trên đất Bắc c̣n có nhiều cố vấn Liên Xô, Đông Đức, Tiệp Khắc, Ba Lan. Riêng Bắc Hàn và Cu Ba, trong suốt cuôc chiến, đă quân viện cho VC nhiều đơn vị tác chiến. Ngày nay tại Hà Nội vẫn c̣n nhiều mồ mă của các tử sĩ ngoại quốc, đă chết v́ chiến tranh VN. Có điều v́ Hồ và đảng che đậy quá kỷ, cho nên mặt thật của việc đánh Mỹ cứu nước, gần mấy chục năm sau mới được phơi bầy.Ngày 4/9/1967 tướng Nguyễn Văn Thiệu đắc cử tổng thống, nhờ đó những xáo trộn chính trị mới dần hồi chấm dứt. Đây cũng là thời gian thành công của Chiến dịch Phượng Hoàng , nhằm loại trừ các thành phần CSVN đang nằm vùng khắp nơi. Dịp này, chính quyền đă thành lập các cơ cấu hạ tầng, cũng như hệ thống thẩm định dân t́nh tại các xă ấp xôi đậu, vản hồi được an ninh trên hầu hết lănh thổ của VNCH. Sự thành công trên, đă được tướng Westmoreland, tổng tư lệnh quân lực Mỹ và Đồng Minh tại VN, nhận xét ‘ Năm 1967, QLVNCH đă tiến triển vượt bư.c. Nhờ vậy đă bảo vệ được lănh thổ trong hoàn cảnh đất nước đang khó khăn, sau mấy năm biến loạn chính trị với thù trong giặc ngoài. Điều này ít có quân đội nào trên thế giới, có thể thực hiện tốt đẹp được như vậy ‘. Cũng nên nhớ rằng, trước khi xăy ra biến cố Tết Mậu Thân (1968), ngoại trừ binh chủng Dù, TQLC, LLDB cuả QLVNCH, được Mỹ trang bị một số vũ khí mớị C̣n tất cả, kể luôn BDQ vẫn phải xử dụng, số lớn quân cụ vũ khí của Pháp để la.i. C̣n viện trợ Mỹ hầu hết được sản xuất từ hai kỳ thế chiến. Trong khi đó, CSBV được toàn khối cọng sản đệ tam quốc tế, viện trợ tối đa, từ tiền bạc, tinh thần tới quân trang dụng và nhiều nhất đều của Liên Xô, Trung Cộng, Đông Đức..Nhiều loại vũ khí hiện đại đă được bộ đội Bắc Việt, xử dụng trên khắp chiến trường Nam VN như các loại Tiểu Liên AK-47 (LX), AK-56 (TC), AK-MPiKM (Đông Đức), AKM-63 (Hung), AKVZ-58 (Tiệp) + Súng Chống Chiến Xa RPG-2B (B40 của LX), B-56 (Tiệp), B-27 (Trung Cộng), RPG-7(B41 của LX), B-69 (TC), các loại Chiến Xa T-54, Thủy Xa PT-76 và Đại Bác tầm xa 122 -130 ly (LX).V́ những thất bại quân sự liên tiếp, nên Bắc Việt đă phải thay đổi chiến thuật, chiến lươ.c. Về chính trị, Hà Nội xử dụng bọn nằm vùng trong hàng ngủ khoa bảng trí thức, giáo vận Miền Nam, để đánh phá không ngừng nghĩ chính quyền, qua chiêu bài đ̣i hỏi tự do, dân chủ..trên báo chí, sách vở, biểu t́nh, xuống đường. Về quân sự, thay đổi từ du kích sang địa chiến, dùng người làm phương tiện mở các cuộc tổng công kích, chỉ với mục đích gây tiếng vang khắp thế giới, để biện minh về sự xâm lăng Miền Nam. Tại Hoa Kỳ và Âu Châu, thế lực cọng sản đệ tam quốc tế, dùng tiền bạc và tuyên truyền, trà trộn vào các phong trào phản chiến thân Cộng, mục đích hạ uy tín của VNCH trên diễn đàn quốc tế, nhất là tại nước Mỹ, đang có nhiều thanh niên tham gia quân đội chiếu đấu tại VN, bằng thủ thuật đánh lạc hướng dư luận thế giới về ư nghĩa của cuộc chiến chống xâm lăng cọng sản của người Việt Quốc Gia. Nhờ vậy VC đă chiến thắng cuối cùng, không phải tại mặt trận, mà ở New York, Hoa Thịnh Đốn, Paris, Luân Đôn.
    Ngày 30-1-1968 nhằm mồng một Tết Nguyên Đán Mậu Thân, giữa lúc đồng bào đang nô nức đón xuân, trong thới gian hưu chiến. Nhưng VC đă bội ước, lợi dụng QLVNCH không đề pḥng, bất thần xua 283.000 cán binh bộ đội miền Bắc, gây nên cuộc chiến long trời lở đất tại thủ đô Sài G̣n, 5 thành phố, 36 thị xă, 64 quận lỵ và 50 xă ấp. Cuộc tàn sát đẳm máu của cộng quân, đă làm cho hơn 40.000 thường dân vô tội bị thảm sát. Hằng trăm ngàn nhà cửa, trường học, cơ sở tôn giáo, bệnh viện và nhiều di tích lịch sử lâu đời của dân tộc, bị bom đạn tàn phá tiêu hủy tận tuyê.t. Nhưng man rợ và thê thảm nhất lại thành phố Huế, CSBV và bọn VC địa phương như Hoàng Phủ Ngọc Tường-Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Lanh, Hoàng Kim Loan..trước khi tháo chạy vào ngày 26-2-1968, đă sát hại hơn 4000 đồng bào vô tô.i. Trong số nạn nhân chết thảm, có nhiều vị giáo sư Tây Đức đang giảng dạy tại viện Đại Học Y Khoa Huế lúc đó như vợ chồng bác sỹ Hort Gunther Krainich, bác sỹ Raimund Discher và bác sỹ Alois Alterkoster..Thi thể các nạn nhân được vùi tại nhiều nấm mồ tập thể trong nội thành và ngoại ô Huế. Xác các nạn nhân sau đó được cải táng tại Nghĩa Trang Ba Tầng ở Hương Trà (Thừa Thiên). Sau ngày 30-4-1975, VC lại cho xe ủi đất san bằng toàn bộ nghĩa trang trên, để phi tang tội ác thiên cổ nhưng cho dù xác thân của nạn nhân đă biến thành tro bụi, vẫn c̣n bia miệng và sử liệu nhắc nhớ ngàn đời. Tóm lại trong trận chiến Tết Mậu Thân 1968, cọng sản Bắc Việt đă thất bại hoàn toàn về quân sự nhưng lại được hệ thống báo chí truyền thông Mỹ, đổi trắng thay đen, bẻ cong ng̣i bút, khiến cho Quân Lực Hoa Kỳ, Đồng Minh và VNCH trở thành bại trâ.n. Hậu quả làm cho người Mỹ bi quan cuộc chiến, gây nên cảnh chia rẽ khắp Hiệp Chủng Quốc, cộng thêm phong trào phản chiến đ̣i Mỹ rút quân, làm cho Tổng thống L.Johnson không ra tái cử.
    Tháng 11-1968, R.M Nixon đảng Cộng Ḥa, đắc cử tổng thống và trước thành quả ổn định của VNCH, năm 1969 Hoa Kỳ tuyên bố rút quân và bắt đầu thi hành kế hoạch VN hóa chiến tranh, bằng chương tŕnh hiện đại hóa QLVNCH. Từ năm 1970-1971, Nam VN đă mở nhiều cuộc hành quân ngoại biên Toàn Thắng tại Kampuchia và Lam Sơn 719 ở Hạ Lào, đă phá hủy nhiều mật khu và căn cứ của bộ đội Bắc Việt, trên đường ṃn Hồ Chí Minh. Nhờ chiến tháng đạt được tại chiến trường, năm 1972 Nixon tái tranh cử tổng thống nhiệm kỳ 2, giữa lúc Hoa Kỳ và Liên Xô đang thương-thảo về hiệp ứớc giới hạn vũ khí chiến lược (Salt), cùng tài giảm binh bị. Lúc đó, cọng sản Bắc Việt đang bị áp lực từ Liên Xô và cũng đang muốn gây lại tiếng vang sau những thất bại quân sự liên tiếp, nên đă liều lĩnh điên cuồng mở các cuộc tổng tấn công vào mùa hè đỏ lửa tại Quảng Trị, Kon Tum,B́nh Định và An Lô.c. Kết quả đă có hơn 100.000 cán binh bỏ mạng tại các chiến trường. Hoa Kỳ cũng phản ứng mạnh bằng cuộc dội bom vô tiền khoáng hậu miền Bắc, đồng thời dùng thủy lôi phong tỏa hải cảng Hải Pḥng, khiến CSBV chịu nghiêm chỉnh hơn, dù chỉ đóng kịch trong bàn hội nghị.
    Rồi hiệp ứơc ngưng bắn được Mỹ và Bắc Việt kư kết vào ngày 27-1-1973 tại Ba Lê, mở đường cho sự sụp đổ của VNCH vào ngày 30-4-1975. Viết về sự bi thảm trên, S.R.Thompson nhận xét rằng ‘ Khi kư hiệp định Ba Lê năm 1973, Nixon và Kissinger đă bỏ lở cuộc chiến thắng gần kề của QLVNCH, bằng tự ư ngưng oanh tạc miền bắc, cũng như ngăn cản Miền Nam tái chiếm lại cac vùng đất đă bị VC cưởng chiếm trong mùa hè đỏ lửa 1972’. Đây mới là yếu tố then chốt, để VC khinh thường Mỹ, nên đă đùa cợt, chơi chử và ngay cả con cáo già Kissinger cũng bị Lê Đức Thọ lừa vào bẩy rập như người lớn dùng kẹo ngọt dụ trẻ nít thơ ngây, không hề biết suy nghĩ. C̣n tổng thống Nixon th́ thú nhận rằng ‘ V́ áp lực của quốc hội Mỹ lúc đó, đa số là đảng dân cư phản chiến, nên ông phải dùng viện trợ chống cộng, bắt ép tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, kư vào bản hiệp ước một cách bất công vô nhân đạo ‘. Nhưng ư nghĩa hơn hết, vẫn là lời kết luân của Đô Đốc U.S.G Sharp, nguyên Tư lệnh Lực Lượng Mỹ tại Thái B́nh Dương ‘ Hiệp định Ba Lê mà Hoa Kỳ đă kư kết với CSBV, không phải là một công thức ḥa b́nh, v́ kẻ xâm lược là VC , vẫn ở lại Miền Nam VN để tiếp tục gây chiến tranh một cách công khai, mà không c̣n sợ Mỹ can thiệp như quá khứ ‘. Nhưng tệ hại nhất là Điều 4 của Bản Hiệp Ước, th́ VNCH phải bị xóa bỏ, để Miền Nam lập lên một chế độ chính trị mới, có ba thành phần Quốc Gia, Cọng Sản và Lực Lượng thứ Ba Ḥa Hợp Ḥa Giải Dân tộc.
    Theo hầu hết các sử gia trong và ngoài nước, thỉ điều 4 trên, mới chính là giọt nước mắt nhược tiểu VN, v́ bản hiệp định chưa kư kết chính thức, th́ bản dự thảo đă được cán binh bộ đội Bắc Việt, học tập chiến dịch giành dân, lấn đất. Tàn nhẩn hơn hết, là QLVNCH đang trong tư thế của người chiến thắng, th́ lại bó tay nhận chịu thân phận kẻ bại trận, theo những áp đặt có lợi, để Mỹ chuẩn bị tháo chạy trong danh dự.
    Rồi sau đó, biết chắc Mỹ sẽ không bao giờ c̣n can thiệp vào cuộc chiến VN, nên Bắc Việt công khai đổ quân vào Nam bằng đường ṃn HCM. Ḥa b́nh đâu chẳng thấy mà cuộc xâm lăng của Bắc Việt càng lúc càng ác liệt tại Cửa Việt, Sa Huỳnh, Hồng Ngự, Trung Nghĩa, Tống Lê Chân..Và cũng để sớm dứt điểm VNCH, quốc hội Mỹ lúc đó do đảng dân chủ cầm lèo, với đa số thuộc thành phần thân cộng phản chiến, đă liên tiếp ban hành hai đạo luật, ngăn cấm chính phủ không được xử dụng ngân khoản để hoạt động quân sự tại Đông Dương ( tháng 8-1973) và đạo luật War Powers Act ( tháng 10-1973), bắt buộc tổng thống Mỹ muốn tham chiến phải có sự phê chuẩn của quốc hô.i. Nhờ hai đạo luật trên, nên cũng từ đó cọng sản Miền Bắc công khai xâm lăng Miền Nam, xé bỏ hiêp định Ba Lê vừa được kư kết . Vậy mà Kissinger và Lê Đức Thọ lại được Ủy ban giải Nobel ḥa b́nh tại Na Uy tuyên xưng một cách trào phúng.
    Trong lúc VNCH khốn đốn trước sự xâm lăng của giặc Bắc, th́ Trung Cộng qua đồng thuận của VC và Hoa Kỳ, tấn công cưởng chiếm hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa của dân tộc VN từ lâu đời.
    Theo Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng/QLVNCH, th́ Tổng thống Thiệu đă vô cùng nan giải trong giai đoạn này, v́ nếu kiên quyết thi hành theo chủ trương ‘ Bốn Không ‘ th́ Mỷ sẻ cúp ngay viện trợ, khiến cho Nam VN sẽ không c̣n phương tiện, để tiếp tục công cuộc chiến đấu chống xâm lăng và bảo vệ diện đi.a. C̣n rút bỏ căn cứ, đă coi như tự cắt đất dâng cho giă.c. Đây cũng chính là nguyên nhân, gần như bắt buộc Tổng thống Thiệu, quyết định bỏ Cao nguyên và Quân khu 1, để rút về bảo vệ các tỉnh duyên hải c̣n lại, trong những ngày đầu tháng 4-1975.
    Tháng 5-1974, Thượng viện Mỹ lại biểu quyết không tăng ngân sách quân viện cho VNCH, khiến cho hầu hết các đơn vị của Miền Nam, không đủ hỏa lực để chiến đấu. Trong lúc quân nhu, quân cụ, xe cộ, chiến xa, phi cơ, đại bác ..đều thiếu các cơ phận thay thế. Nhưng dù gặp phải trăm điều khó khăn chồng chất, kể cả sự đói rách thê thảm của binh sĩ, do ảnh hưởng của xă hô.i.Tuy vậy QLVNCH vẫn can trường chiến đấu cho tới giờ thứ 25, bị Dương Văn Minh dùng quyền Tổng Tư Lệnh quân đội, bắt buộc buông súng ră ngủ.
    Ngày 9-8-1974, Tổng thống Nixon từ chức v́ vụ Watergate. Đây chính là thời cơ vàng ṛng, để Bắc Việt quyết tâm xâm lăng VNCH, mà mở đầu là trận Thường Đức (Quảng Nam), kế tiếp là Phước Long vào ngày 6-1-1975.
    Trong khi đó, tai Hoa kỳ từ Tổng thống Ford tới quốc hội và Bộ quốc pḥng, nơi nào cũng dửng dưng không nghe không thấy. Tàn nhẩn hơn, Mỹ lại cắt xén gần hết ngân khoản viện trợ, từ 1 tỷ 126 triệu đô xuống 700 triê.u. Trước sự kiện bi thảm nảo nùng trên, S.R.Thompson đă viết ‘ Trong suốt cuộc chiến, Miền Nam đă đóng góp phần ḿnh bằng phong độ phi thường. một điều mà ai cũng nghĩ là họ khó có thể làm được’.
    Tháng 3-1975, Ban Mê Thuột thất thủ. Để có đủ lực lượng bảo vệ phần đất c̣n lại trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn, nên Tổng thống Thiệu đă ra lệnh rút bỏ Cao nguyên và QD1. Hai cuộc lui quân đều thất bại, kéo theo sự tan ră gần nửa lực lượng quân đội và ba phần tư lănh thổ đất nước. Ngày 19-4-1975 Phan Thiết thất thủ. Tại Xuân Lộc (Long Khánh), từ 8-4-1975 tới ngày 15-4-1975, Sư đoàn 18BB cùng các Đơn vị tăng phái gồm Lử Đoàn 1 Nhảy dù, TD82BDQ, Tiểu Khu Long Khánh..đă dạy cho quân xâm lăng Bắc Việt, bài học để đời với hơn 20.000 cán binh bỏ mạng tại chổ, trả thù cho đồng bào vô tội, đă bị cọng sản tập kích trên đường lánh na.n. Ngày 21-4-1975, Tổng thống Thiệu từ chức, Phó Tổng thống Trần Văn Hương thay thế, cuối cùng giao quyền cho Dương Văn Minh vào ngày 28-4-1975, để đầu hàng giặc vào trưa ngày 30-4-1975.Viết về cuộc chiến VN, thủ tướng sau cùng của VNCH là Nguyễn Bá Cẩn, đă có nhận xét rất xác thực, khi diễn tả thái độ hờ hửng của đồng bào Miền Nam qua chiến cuô.c. Đây không phải là v́ VNCH chỉ kiểm soát được 30 % dân số và phần c̣n lại chỉ là đám lục b́nh trôi nổi, như nhận xét của một sử gia nào đó. Thật sự Miền Nam hoàn toàn khác biệt với chế độ độc tài khũng bố của Miền Bắc Ngoài ra tại Miền Nam, từ Quốc trưởng Bảo Đại, tới các tổng thống Ngô Đ́nh Diệm, Nguyễn văn Thiệu, Trần Văn Hương, quá tự do và nhân đa.o. C̣n đồng bào phần lớn chưa hiểu rỏ mặt thật của cọng sản, nên đă bị giặc tuyên truyền đầu độc, chạy theo VC. Đă vậy dân chúng thường thờ ơ lănh đạm với thời cuộc, hầu như giao phó hết mọi sự cho chính quyền, quân đội, ai chết mặc bây. Dân đă vậy, đất nước thêm bất hạnh v́ đă không có một vị lănh đạo, đủ khả năng đạo đức, để đối phó với hoàn cảnh, nh́n rơ chính sách toàn cầu của Hoa Kỳ, để phối trí kịp thời lực lượng bảo vệ lănh thổ, trong lúc khẩn cấp.
    Last edited by alamit; 28-04-2012 at 12:58 AM.

  4. #4
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,775

      Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu: Công và Tội?
      

    Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu: Công và Tội?
    Nguyễn Đạt Thịnh







    Tháng 3-1975, Ban Mê Thuột thất thủ. Để có đủ lực lượng bảo vệ phần đất c̣n lại trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn, nên Tổng thống Thiệu đă ra lệnh rút bỏ Cao nguyên và QD1. Hai cuộc lui quân đều thất bại, kéo theo sự tan ră gần nửa lực lượng quân đội và ba phần tư lănh thổ đất nước. Ngày 19-4-1975 Phan Thiết thất thủ. Tại Xuân Lộc (Long Khánh), từ 8-4-1975 tới ngày 15-4-1975, Sư đoàn 18BB cùng các Đơn vị tăng phái gồm Lử Đoàn 1 Nhảy dù, TD82BDQ, Tiểu Khu Long Khánh..đă dạy cho quân xâm lăng Bắc Việt, bài học để đời với hơn 20.000 cán binh bỏ mạng tại chổ, trả thù cho đồng bào vô tội, đă bị cọng sản tập kích trên đường lánh na.n. Ngày 21-4-1975, Tổng thống Thiệu từ chức, Phó Tổng thống Trần Văn Hương thay thế, cuối cùng giao quyền cho Dương Văn Minh vào ngày 28-4-1975, để đầu hàng giặc vào trưa ngày 30-4-1975.Viết về cuộc chiến VN, thủ tướng sau cùng của VNCH là Nguyễn Bá Cẩn, đă có nhận xét rất xác thực, khi diễn tả thái độ hờ hửng của đồng bào Miền Nam qua chiến cuô.c. Đây không phải là v́ VNCH chỉ kiểm soát được 30 % dân số và phần c̣n lại chỉ là đám lục b́nh trôi nổi, như nhận xét của một sử gia nào đó. Thật sự Miền Nam hoàn toàn khác biệt với chế độ độc tài khũng bố của Miền Bắc Ngoài ra tại Miền Nam, từ Quốc trưởng Bảo Đại, tới các tổng thống Ngô Đ́nh Diệm, Nguyễn văn Thiệu, Trần Văn Hương, quá tự do và nhân đa.o. C̣n đồng bào phần lớn chưa hiểu rỏ mặt thật của cọng sản, nên đă bị giặc tuyên truyền đầu độc, chạy theo VC. Đă vậy dân chúng thường thờ ơ lănh đạm với thời cuộc, hầu như giao phó hết mọi sự cho chính quyền, quân đội, ai chết mặc bây. Dân đă vậy, đất nước thêm bất hạnh v́ đă không có một vị lănh đạo, đủ khả năng đạo đức, để đối phó với hoàn cảnh, nh́n rơ chính sách toàn cầu của Hoa Kỳ, để phối trí kịp thời lực lượng bảo vệ lănh thổ, trong lúc khẩn cấp.

    Thêm vào đó c̣n có các chính khách sa lông, nhiều nhà báo thân cộng nằm vùng, luôn thừa nước đục thả câu, t́m cách phá rối xách động mọi người chống lại chính quyền, giúp giặc cưởng chiếm đất nước. Tới khi cọng sản chiếm được Sài G̣n, sau ngày 1-5-1975, thành phần trí thức xôi thịt này, cũng đă bị VC đào thải không thương tiếc.

    Lịch sử VN suốt mấy ngàn năm, trang nào cũng đẳm đầy máu lệ, chứ không phải chỉ riêng giai đoạn đau thương mất nước, dưới thời các vị Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Trần Văn Hương. Ba mươi năm qua (1975-2005), người dân cả nước sống trong hàng rào kẻm gai, lưởi lê và họng súng, của kiếp nô lệ mới, chắc đă thấm thía ngậm ngùi, khi đối mặt với những chóp bu già nua siêu phong kiến, tại Bắc Bộ Phủ. Đây mói chính là h́nh ảnh của hai cuộc đời, về những ác chúa từng miền, những xác ướp bạo quyền. Có nhận rơ sự thật của lịch sử, chúng ta mới không thấy cay mắt khi khai quật và trên hết là đủ can đảm lấp kín cái tội hèn của chính ḿnh, khi công khai nói lên những điều muốn nói.Mường Giang – Xóm Cồn, Tháng 6-2005

    Một Cái Nh́n Khác Về Ông Nguyễn Văn Thiệu
    Toàn Như chuyển dịch

    Khoảng tháng Giêng năm 1972, John Paul Vann nói, “ Thực tế không thể chối căi là đại đa số dân chúng … khoảng 95 phần trăm – thích chính quyền Việt Nam (Cộng Ḥa) hơn là một chính quyền Cộng Sản hay là chính quyền trao cho phía bên kia.” Thật đáng buồn, ngày nay nhiều người miền Nam Việt Nam đang chỉ trích theo quan điểm của họ về Tổng Thống Thiệu.

    Một Cái Nh́n Khác Về Ông Nguyễn Văn Thiệu: Tổng Thông Nguyễn Văn Thiệu không phải là bù nh́n của Mỹ (1)
    Tác giả: LEWIS SORLEY

    Toàn Như chuyển ngữ
    LỜI GIỚI THIỆU: Nhân dịp Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn, Hoa Kỳ, vừa tổ chức Lễ Giỗ lần thứ 7 cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu vào ngày 28-9-2008 vừa qua, chúng tôi xin giới thiệu đến quư bạn một bài báo của tác giả Lewis Sorley đă có một cái nh́n khác về ông Nguyễn Văn Thiệu. Tác giả là một cựu đại tá trong quân đội Hoa Kỳ đă hồi hưu, từng phục vụ tại Việt Nam trong thập niên 1960. Bài báo đăng trên tạp chí VIETNAM Magazine, tạp chí của các cựu chiến binh Mỹ tham chiến tại Việt Nam, ấn bản tháng Tư 2004. (TN)

    Đọc những báo chí Mỹ trong thời kỳ Chiến Tranh Việt Nam, người ta có thể nghĩ rằng vị cựu tổng thống Việt Nam Cộng Ḥa từ 1965 đến 1973 (2) là một kẻ bất tài, làm theo sự sai khiến của Hoa Kỳ. Nguyên nhân là v́ cái tinh thần phản chiến mạnh mẽ trong thời gian đó và cái khuynh hướng nghi ngờ việc chọn lựa các vị tổng thống đang phải đương đầu với một cuộc chiến bất b́nh thường. Cho nên, Thiệu không là ǵ khác hơn là một gă bù nh́n.

    Trong những giai đoạn đẫm máu nhất của cuộc chiến, ông (Thiệu) đă chủ tŕ những diễn biến chính trị phức tạp và sôi nổi và mỗi chuyển động của ông đều được ghi lại trên trang nhất của báo chí Hoa Kỳ mô tả chiến tranh trong đầy rẫy khổ ải. Mặc dù vậy, trong khi chiến đấu chống lại một sự xâm lấn từ bên ngoài và một sự nổi dậy từ bên trong đang được ủng hộ và yểm trợ bởi Trung Quốc và Liên Sô, ông đă thực hiện được các chính quyền dân cử từ cấp quốc gia cho tới các xă ấp. Ông đă mở rộng và – với sự yểm trợ cố vấn và trang bị của Hoa Kỳ – chấn chỉnh quân lực để đảm nhận cái gánh nặng từ việc rút lui của quân lực Hoa Kỳ. Thiệu đă đích thân chỉ huy một chương tŕnh b́nh định để phá vỡ sự xâm nhập (của VC) đang diễn ra tại nông thôn qua cưỡng ép và khủng bố, bằng cách ban hành một chương tŕnh cải cách ruộng đất cấp cho 400.000 nông dân chủ quyền khoảng 2,5 triệu mẫu ruộng. Ngoài ra, ông c̣n tổ chức cho 4 triệu dân vào Lực Lượng Nhân Dân Tự Vệ, một lực lượng bán quân sự với 600.000 vũ khí.

    Thiệu sinh ra ở Ninh Thuận và đi học tại những trường Thiên Chúa Giáo tại Huế. Ngay sau Thế Chiến II, ông đă có thời gian ngắn theo Việt Minh, nhưng đă sớm từ bỏ v́ những khuynh hướng thiên về cộng sản của nó. Thiệu sau đó theo học trường Vơ Bị Quốc Gia ở Huế rồi chiến đấu cho Pháp chống lại Việt Minh. Sau khi người Pháp ra đi và Việt Nam bị chia đôi, Thiệu đă tiến rất nhanh trong QLVNCH và trở thành một sĩ quan cấp tướng năm 1962 (3). Năm 1963, ông là một trong những người lănh đạo cuộc đảo chánh lật đổ Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Năm 1967, Thiệu được bầu làm tổng thống theo một bản hiến pháp mới.

    Đại Sứ Ellsworth Bunker biết rất rơ về Thiệu. Bunker nhận xét, “Ông ta giải quyết vấn đề một cách khôn khéo và thông minh. Ông ta là một cá nhân có khả năng hiểu biết rất sâu sắc. Ông ta quyết định ngay từ đầu tuân thủ theo hiến pháp, chứ không cai trị theo kiểu các ông tướng mà nhiều người trong số đó mong muốn ông thực hiện.”

    Thiệu bị áp lực phải thay thế những kẻ tham nhũng và kém khả năng đang ở trong những vị trí cao, và chỉ giữ lại một số trung thành, nếu không thể loại trừ tất cả. Thời gian đầu trong nhiệm kỳ tổng thống ông đă giải thích lư do với một sĩ quan cao cấp Hoa Kỳ rằng: “Việc thanh lọc toàn bộ số sĩ quan Miền Nam không thể nào đơn giản, bất cứ sự thay đổi chỉ huy chính yếu nào cũng phải được nghiên cứu phối hợp một cách cẩn thận. Quân đội không thể để cho chính trị loại bỏ trong một đêm. Quân đội đă và đang là người hỗ trợ về chính trị chủ yếu và là lực lượng duy nhất nối kết quốc gia.”

    Bunker và vị tư lệnh Hoa Kỳ, Tướng Creighton Abrams, hiểu rơ chuyện này và cả hai đều kiên nhẫn và thông cảm, nhưng họ cũng đưa ra những đề nghị nhắm vào một số sĩ quan cao cấp không thích hợp. V́ vậy thỉnh thoảng đă có những sự thay đổi trong việc chỉ huy ở miền Nam Việt Nam. Nhưng chưa bao giờ có thể có một sự trong sạch hóa toàn diện. Không chỉ v́ e sợ những xáo trộn về chính trị, mà c̣n v́ một số những sự thay đổi thiết yếu vẫn chưa sẵn sàng.

    So sánh với sự lănh đạo của Hoa Kỳ trong cùng thời gian người ta có thể có những kết qủa thú vị. Chẳng hạn như Nguyễn Văn Thiệu khi tranh luận có thể được coi là một người lương thiện và đứng đắn hơn cả Lyndon Johnson và – tuy khác biệt trong một một số trường hợp – hoàn toàn như là một vị tổng thống có ảnh hưởng hơn của quốc gia ông. Vào lúc đó, người ta cũng cho rằng Thiệu có nhiều tự do quyết định cho xứ sở ông hơn cả LBJ (4) đối với nước Mỹ.

    Những viên chức hàng đầu của Mỹ đều nh́n nhận tầm quan trọng của Thiệu, đặc biệt trong việc b́nh định. Abrams nhận xét, “Ông ấy biết về b́nh định hơn bất kỳ người Việt Nam nào.” William Colby (5) nói, Thiệu là “viên chức b́nh định số một.”

    Tại Vũng Tàu, 1400 trưởng ấp, đại diện cho khoảng ba phần tư các trưởng ấp ở Miền Nam Việt Nam, đă tham dự một khóa huấn luyện trong năm 1969. Thiệu đă đến thăm từng người trong các lớp học này, khuyến khích các trưởng ấp trở về nhà hăy nói rằng “Tổng thống Thiệu đă nói với tôi rằng …” Cuối năm 1969, t́nh h́nh đă tiến triển khả quan đến nỗi John Paul Vann (6), người đă đóng một vai tṛ rất quan trọng trong công tác b́nh định, đă nói với cử tọa ở Princeton rằng, “Hoa Kỳ đă thắng cuộc chiến tranh quân sự và đang thắng một cuộc chiến tranh chính trị xuyên qua Thiệu.”

    Mặc dù Cộng Sản không ngừng tiên đoán về một “cuộc tổng nổi dậy” ở Miền Nam Việt Nam, nhưng trên thực tế đă không hề có một cuộc tổng nổi dậy nào như thế. Đối với bất kỳ một nhà quan sát cụ thể nào, dường như chẳng ai ngạc nhiên về những thành tích của cộng sản qua những vụ ám sát, bắt cóc, đánh bom khủng bố, cưỡng bách và pháo kích bừa băi vào những khu dân cư ở Miền Nam Việt Nam. Đó là những hành động khó mà chinh phục được trái tim và khối óc của các nạn nhân.

    Vào tháng 4 năm 1968, Tổng Thống Thiệu đă chống lại lời khuyên của tất cả các vị cố vấn để tổ chức Lực Lượng Nhân Dân Tự Vệ. Ông biện luận, “chính phủ phải dựa vào sự ủng hộ của dân chúng, và nó cũng chẳng có gía trị ǵ nếu chúng ta không dám trang bị vũ khí cho họ.”

    Sau cùng khoảng 4 triệu người, những người qúa ǵa hoặc qúa trẻ cho quân vụ chính quy, được ghi danh vào Lực Lượng Nhân Dân Tự Vệ. Qua sự thiết lập này, chính quyền Thiệu đă có sự ủng hộ của chính dân chúng, qua Lực Lượng Tự Vệ với những vũ khí mà nó có không phải để chống lại chính quyền mà là để chiến đấu chống lại sự thống trị của Cộng Sản. Tháng Mười năm 1971, trong một cuộc chiến đấu cam go, Tổng Thống Thiệu đă được tái cử trong một cuộc bầu cử độc diễn. Nhiều người chỉ trích ông về việc này, và đề nghị không công nhận cuộc thắng cử của ông. Nhưng trong cuộc bầu cử đó, mặc dù kẻ thù kêu gọi tẩy chay và cử tri là mục tiêu bị đe dọa, nhưng kết qủa 87.7 % cử tri đi bầu và 91.5 % bầu cho Thiệu đă là một sự ngạc nhiên.
    Đó là con số cử tri đi bầu lớn nhất trong lịch sử Việt Nam. Nếu nó chẳng ra ǵ (v́ không có đối thủ), hay nếu công chúng không chấp thuận sự lănh đạo của Thiệu, tại sao họ lại đi bầu đông như thế, với những rủi ro cá nhân có thể hay thực sự xảy ra, nếu không phải để biểu lộ sự ủng hộ việc tái cử của Thiệu? Câu trả lời rơ ràng là đại đa số đồng bào đánh gía cao các việc làm của Thiệu và mong mỏi ông tiếp tục ở lại nhiệm vụ.
    Khoảng tháng Giêng năm 1972, John Paul Vann nói, “ Thực tế không thể chối căi là đại đa số dân chúng … khoảng 95 phần trăm – thích chính quyền Việt Nam (Cộng Ḥa) hơn là một chính quyền Cộng Sản hay là chính quyền trao cho phía bên kia.”

    Thật đáng buồn, ngày nay nhiều người miền Nam Việt Nam đang chỉ trích theo quan điểm của họ về Tổng Thống Thiệu. Tôi đă nói chuyện về vấn đề này với nhiều người bạn Việt Nam đang sống ở Mỹ. Gần đây, một người đặc biệt, có học thức và thông thái, đă làm tôi ngạc nhiên khi nói rằng người Việt đă cho rằng Tổng Thống Thiệu đă lừa dối họ. Tôi đă hỏi lại ông ấy là lừa dối như thế nào. Người bạn đó đă trả lời: “Ông ấy biết người Mỹ sẽ bỏ chúng tôi, nhưng đă không nói cho chúng tôi biết.”
    Tôi cho rằng đó là một quyết đoán qúa khe khắt và c̣n cần tranh luận. Đại Sứ Bunker c̣n nhớ đă trao riêng cho Tổng Thống Thiệu ba lá thư của Tổng Thống Nixon mà trong đó “ông đă cam kết” sẽ trợ giúp miền Nam Việt Nam “trong bất kỳ sự vi phạm hiệp ước bởi phía bên kia.” Nhưng, Bunker nhận xét, “Quốc Hội … đă làm cho nó bất khả thi.”

    Kết quả ra sao? Bunker nói một cách rơ ràng rằng “Tôi nghĩ đó thực sự là một sự phản bội miền Nam Việt Nam.” Cũng thật khó cho Tổng Thống Thiệu có thể tiên đoán được cái hành động đáng hổ thẹn như vậy của Hoa Kỳ.

    Vài ngày trước khi Sài G̣n thất thủ trong năm 1975, Thiệu đă phải sống cuộc đời lưu vong, đầu tiên là ở Đài Loan, sau tới Anh quốc và cuối cùng là Hoa Kỳ. Ông đă từ trần trong năm 2001. Nguyễn Văn Thiệu đă đương đầu một cách anh hùng trong những năm dài chiến tranh đầy cam go, ông đă nhận được – dù ông có nhận hay không – sự ngưỡng mộ và ḷng biết ơn của tất cả những ai mong muốn cho một miền Nam Việt Nam tốt đẹp.
    TOÀN NHƯ chuyển ngữ
    Chú thích:
    (1) tạm dịch từ “South Vietnamese President Nguyen Van Thieu was far from the American patsy he is often portrayed to have been”, Vietnam Magazine, APR. 2004, Volume 16/Number 6.
    (2) đúng ra ông Nguyễn Văn Thiệu làm tổng thống từ năm 1967 đến ngày 30/4/1975; c̣n từ năm 1965 đến 1967, ông là chủ tịch Ủy Ban Lănh Đạo Quốc Gia (chức vụ tương đương quốc trưởng).
    (3) năm 1962, ông Thiệu c̣n là đại tá.
    (4) LBJ là chữ viết tắt tên TT. Lyndon Baine Johnson
    (5) William Colby là trưởng Chi Nhánh CIA tại Việt Nam, sau giữ chức giám đốc CIA tại Hoa Kỳ.
    (6) John Paul Vann (1924-1972): Nguyên là một Trung Tá trong quân lực Hoa Kỳ sau đă giải ngũ, phục vụ 2 nhiệm kỳ tại Việt Nam trong vai tṛ cố vấn. Từ năm 1962 đến 1963, là cố vấn cho Đại Tá Huỳnh Văn Cao (sau là thiếu tướng), tư lệnh Sư Đoàn 7. Trở lại VN năm 1965 làm việc cho cơ quan USAID, sau là cố vấn cho Vùng II Chiến Thuật bị tử nạn máy bay năm 1972 tại KonTum.

    Một Góc Khác của T.T. Nguyễn Văn Thiệu
    Nhà văn Trần Phong Vũ vừa phỏng vấn ông Nguyễn Văn Ngân, phụ tá đặc biệt của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.Nội dung cuộc phỏng vấn giúp chúng ta hiểu thêm một vài góc cạnh khác của ông Thiệu, nhưng không trả lời được câu hỏi đau xót nhất là vai tṛ của ông trong việc phá tan hai quân đoàn 1 và 2, và để mất một nửa đất nước.
    Ông có thi hành mệnh lệnh của Hoa Kỳ không?

    Thái độ của ông, bỏ đất nước, bỏ dân chúng và quân đội để thoát thân theo vợ, con ra ngoại quốc có là chỉ dấu cho thấy ông “mua” sự an toàn của bản thân và gia đ́nh ông bằng cái giá dâng hiến đất nước cho Việt Cộng không?
    Trung tướng Ngô Quang Trưởng, tư lệnh Quân Đoàn 1, và thiếu tướng Phạm Văn Phú, tư lệnh Quân Đoàn 2, đă nêu lên nhiều nghi vấn về những mệnh lệnh rút quân của ông.Tôi trân trọng đề nghị nhà văn Trần Phong Vũ và ông Nguyễn Văn Ngân khai phá những bí mật c̣n gói kín này. Ông Ngân có thể không biết chi tiết, nhưng chắc chắn ông cũng có thể giúp đánh giá thái độ của ông Thiệu trong những ngày Việt Nam bị bức tử, có thể với sự đồng lơa của ông Thiệu.Ông Vũ giải thích nguyên nhân thực hiện cuộc phỏng vấn, và giới thiệu ông Ngân: “Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, vai chính nắm giữ ch́a khóa mở vào những bí ẩn của một giai đoạn lịch sử, đă vĩnh viễn ra đi ngày 29-9-2001 không để lại một vết tích nào, ít nữa là về phía ông. Không hồi kư. Không di chúc chính trị. Ông lặng lẽ trở về ḷng đất mang theo một trời tâm sự u uẩn của một nhà lănh đạo từng được dư luận đặt lên bàn cân với nhiều suy đoán, nhận định, lượng giá khác nhau, đôi khi đối nghịch nhau. Một khuôn mặt thời cơ? Một kẻ tham quyền cố vị? Một lănh tụ gan lỳ, nham hiểm, nhiều thủ đoạn? Một người yêu nước cô đơn? Một nhà lănh đạo quốc gia thông minh, mưu trí, nhưng sinh bất phùng thời?Do một trùng hợp t́nh cờ, 5 năm sau ngày TT Thiệu từ trần, chúng tôi đă gặp gỡ ông Nguyễn Văn Ngân, nguyên Phụ tá đặc biệt về chính trị của TT Nguyễn Văn Thiệu dưới thời Đệ Nhị Cộng Ḥa để thực hiện cuộc phỏng vấn này trong nhiều ngày của tháng 9 năm nay (2006). Là một cộng sự viên lâu năm và là một Phụ tá trẻ tuổi nhất trong số những Phụ tá đặc biệt của TT Thiệu, ông Ngân thường được giới báo chí ngày đó coi là một khuôn mặt bí ẩn. Đối với các chính khách “ṿng trong” th́ ông là người đă nắm giữ nhiều quyền lực quan trọng trong hậu trường chính trị miền Nam bấy giờ.Ông Nguyễn Văn Ngân khởi sự làm việc với TT Thiệu năm 1965, thời gian ông Thiệu giữ chức Phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc pḥng trong chính phủ Phan Huy Quát. Năm 1967, ông là đại diện của Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ tịch Ủy ban Lănh đạo Quốc gia trong liên danh Nguyễn Văn Thiệu Nguyễn Cao Kỳ tại Hội đồng Tuyển cử Trung ương, trong cuộc chạy đua vào dinh Độc lập. Năm 1971, TT Thiệu ủy nhiệm ông chỉ đạo toàn bộ cuộc bầu cử tháng 10-71; ông là tác giả đạo luật bầu cử tổng thống với điều 10 khoản 7 đưa đến t́nh trạng độc cử.Năm 1974, ông là tác giả tu chính án Hiến pháp tháng 01-74 gia tăng nhiệm kỳ 3 tổng thống. Ông là người trách nhiệm điều hợp các cơ chế hiến định: Quốc hội, Tối cao Pháp viện, Giám sát viện và có ảnh hưởng quan trọng đến sinh hoạt của các cơ chế này; đồng thời là người tổ chức đảng Dân Chủ là đảng cầm quyền của TT Thiệu gồm hệ thống quần chúng, chính quyền và quân đội.Tháng 5-1974 ông bị TT Thiệu giải nhiệm và buộc phải rời khỏi Việt Nam. Cuối tháng 01-75, ông từ Mỹ và Gia nă đại về nước. Đầu tháng 4 năm ấy ông bị TT Thiệu hạ lệnh cho cơ quan an ninh “cô lập” và chỉ được trả tự do sau khi TT Thiệu rời Việt Nam đi Đài Loan tối ngày 25-4-1975.”
    Ông Vũ hỏi ông Ngân: “Dưới thời Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm cũng như Tổng thống Thiệu, sự lănh đạo đều có tính cách chuyên hoạnh cá nhân. Điều này có phải v́ đầu óc độc tôn, tham quyền cố vị của lănh tụ như hiện tượng phổ quát trong hầu hết các quốc gia chậm tiến?
    Đ.- Tại miền Nam Việt Nam dưới thời Tổng thống Diệm và Tổng thống Thiệu có nhiều nguyên nhân đưa đến t́nh trạng lănh đạo có tính cách chuyên hoạnh cá nhân: nền dân chủ phôi thai, sinh hoạt chính đảng yếu kém, xă hội phân hóa, chiến tranh v.v… nhưng một trong những nguyên nhân chính có tính cách quyết định là chính sách can thiệp của người Mỹ.Người Mỹ đă thay thế nguời Pháp với chánh sách thực dân mới. Vào thế kỷ 19 người Pháp nhân danh khai hóa để khai thác tài nguyên thuộc địa, nay người Mỹ nhân danh dân chủ đểå khai thác xương máu người Việt Nam trong việc thiết lập một tiền đồn chống Cộng tại Đông Nam Á của chủ thuyết Domino. Người Mỹ đến Việt Nam không v́ quyền lợi người Việt Nam mà v́ quyền lợi người Mỹ. Nền dân chủ mà người Mỹ xiển dương khi can thiệp vào Việt Nam là nền dân chủ được định nghĩa trong quyền lợi của Mỹ, một thứ phó sản được dùng làm b́nh phong để thực hiện chính sách chia để trị, thiết lập đạo quân thứ năm, khuyến khích t́nh trạng vô chính phủ, nội loạn… để dễ bề khuynh loát và khi cần thiết để thực hiện các cuộc đảo chánh và ám sát lănh tụ quốc gia bằng bàn tay của các tay sai bản xứ.Chánh sách viện trợ hoàn toàn có tính cách tiêu thụ đă được sử dụng như lưỡi gươm Damoclès. Trong khi viện trợ của Nga-Tàu cho Bắc Việt nặng tính cách sản xuất th́ viện trợ của Mỹ cho miền Nam Việt Nam hoàn toàn có tính cách tiêu thụ. Trong thời chiến Bắc Việt có khu kỹ nghệ nặng gang thép Thái Nguyên và cục quân giới của tướng Trần đại Nghĩa có khả năng cải tiến Sam 2 bằng cách ngăn chận hệ thống nhiễu sóng radar và đạt tầm cao hạ máy bay B52 của Mỹ bấy giờ được xem là loại máy bay bất khả xâm phạm có sức oanh tạc phá hoại ghê gớm th́ kỹ nghệ quốc pḥng của miền Nam Việt Nam là con số không. Những dự án xây dựng cơ sở đúc súng đạn, nhà máy lọc dầu, phân bón… từ thời tổng thống Ngô Đ́nh Diệm đều bị người Mỹ ngăn chận. Đối với một dân tộc, dù viện trợ có tính cách sản xuất, muốn sử dụng hữu hiệu cũng đ̣i hỏi phải có tinh thần tự lực, tự cường; huống hồ dân tộc đó vừa thoát khỏi ách đô hộ trăm năm của thực dân Pháp, chính sách viện trợ hoàn toàn có tính cách tiêu thụ chỉ nhằm mục đích làm tê liệt ư chí đề kháng và nô lệ hóa.Cùng với chính sách viện trợ có tính cách tiêu thụ và nhân danh dân chủ để can thiệp vào nội bộ quốc gia được viện trợ, chính quyền của quốc gia được viện trợ bị xem là công cụ của ngoại bang, đă đẩy một số quần chúng đi về phía cộng sản và dưới mắt thế giới Việt Nam Cộng Ḥa đă bị cô lập, cuộc chiến đấu bảo vệ dân chủ và tự do của nhân dân miền Nam Việt Nam bị mất chánh nghĩa.Những khó khăn thực sự của ông Diệm và ông Thiệu phát xuất từ chính sách can thiệp của người Mỹ, có thể nói nếu giải quyết được những khó khăn nầy th́ sẽ giải quyết được 90% những khó khăn trong việc xây dựng đất nước và chống cộng. Để đối phó với chánh sách hai mặt của người Mỹ, ông Diệm và ông Thiệu bị dồn vào thế lănh đạo có tính cách chuyên hoạnh cá nhân, và như một ṿng luẩn quẩn không lối thoát, sự lănh đạo có tính cách chuyên hoạnh cá nhân đă làm mất hậu thuẫn rộng răi trong quần chúng.Chính sách thực dân mới của người Mỹ là yếu tố có tính cách quyết định đă làm sụp đổ miền Nam Việt Nam. Sau Thế chiến thứ I, Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn Thế Truyền đă đưa ra một bản cáo trạng lên án thực dân Pháp, thiết tưởng chế độ thực dân mới của Mỹ c̣n tàn bạo gấp nhiều lần so với thực dân cũ v́ sau 30/4/75 Việt Nam Cộng Ḥa đă hoàn toàn bị xóa sổ trên bản đồ thế giới.

    H.- Ông có đồng ư rằng chế độ đệ I và đệ II Cộng ḥa cũng như ông Diệm và ông Thiệu đă được Hoa Kỳ yểm trợ nếu không muốn nói là đă góp phần quyết định?
    Đ.- Không ai phủ nhận điều đó.Cũng như chế độ miền Bắc với Hồ Chí Minh. Đó là hậu quả đương nhiên của một thế giới lưỡng cực sau thế chiến thứ hai mà Việt Nam là một điểm nóng trong cuộc tranh chấp giữa tư-bản và cộng-sản.Người ta có thể nói Hồ Chí Minh là công cụ của cộng-sản quốc tế nhưng ông Diệm và ông Thiệu trong thực tế không phải là tay sai của Mỹ.Hồ Chí Minh đă áp đặt chế độ cộng sản trên đất nước, thay thế xiềng xích nô lệ thực dân, phong kiến bằng xiềng xích cộng sản; sự dă man và tàn bạo như thế nào th́ tất cả mọi người đều biết. Và hậu quả di lụy của tinh thần nô lệ đă khiến cho một dân tộc vốn giàu ḷng hy sinh, siêng năng, nhẫn nại, đă chiến thắng trong chiến tranh nhưng đă thất bại trong ḥa b́nh đất nước tụt hậu trong đà tiến của nhân loại.Sau Hiệp Định Genève 1954, người Pháp rút lui để lại miền Nam Việt Nam hoàn toàn bị kiệt quệ v́ chiến tranh để chống lại cộng sản quốc tế và Bắc Việt, chúng ta chỉ c̣n tài nguyên nhân lực là máu để đánh đổi viện trợ Mỹ cùng với các điều kiện áp đặt, không c̣n một sự lựa chọn nào khác. Ông Diệm và ông Thiệu đă lănh đạo đất nước trong những điều kiện vô cùng khó khăn: xây dựng chế độ dân chủ trên một xă hội băng hoại bởi phân hóa với lịch sử ngàn năm phong kiến, nô lệ ngoại bang, chưa hề kinh qua một giai đoạn quá độ có ư niệm về dân chủ, tự do không phải là một công việc dễ dàng; đồng thời phải chống lại xâm lăng cộng sản và chánh sách thực dân mới của đồng minh Mỹ, những người quốc gia Việt Nam đă phải chiến đấu sinh tồn trong một hoàn cảnh nghiệt ngă, trong cái thế trên đe dưới búa, giữa gọng kềm tư bản và cộng sản. Chế độ đệ I và đệ II Cộng Ḥa của miền Nam trước 1975 dẫu có nhiều khuyết điểm nhưng không ai có thể phủ nhận rằng các cấu trúc chính trị, xă hội, kinh tế ngày đó đă đặt nền móng vững chắc làm bệ phóng dẫn đầu những con rồng Á Châu sau nầy để trở thành một quốc gia hùng cường tại Đông Nam Á. Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm là một nhà ái quốc, người của chủ nghĩa dân tộc, đă bị người Mỹ giết v́ bảo vệ chủ quyền quốc gia. Chính biến 1/11/63 và cái chết của ông là sự thất bại chung cho tất cả mọi người quốc gia Việt Nam về một giải pháp quốc gia. Hậu quả là việc quân đội Mỹ trực chiến và sự sụp đổ miền Nam Việt Nam 30/4/75. Chúng ta đă bị lôi kéo vào một cuộc chiến hoàn toàn không cần thiết v́ đă không làm chủ được số phận của ḿnh và tất cả dân tộc Vịệt Nam đều là nạn nhân với hơn hai triệu thương vong, hơn bảy triệu tàn phế, hơn hai triệu người bỏ nước ra đi tị nạn với hàng vạn người vùi thân trong biển cả, đất nước đổ nát… Thời Tổng thống Thiệu khó khăn hơn thời Tổng thống Diệm rất nhiều: hơn nửa triệu lính Mỹ trấn đóng; ṭa Đại sứ Mỹ thực tế là một chánh phủ Mỹ tại hải ngoại với một hệ thống cố vấn dày đặc trong tất cả mọi lănh vực sinh hoạt quốc gia từ trung ương tới địa phương; số lượng nhân viên CIA chỉ sau trụ sở trung ương (Langley), là chi nhánh có nhân viên đông nhất trên thế giới; và ông Thiệu đă phải đối phó với một nghịch lư: trong khi khối cộng sản quốc tế và Bắc Việt tiếp tục leo thang chiến tranh th́ người Mỹ thực hiện giải kết bằng cách rút quân trên chiến trường và nhượng bộ chính trị trên sinh mạng miền Nam Việt Nam tại hội đàm Paris. Trong cuộc chiến chống cộng và suốt thời gian lănh đạo quốc gia, có thể nói 90% thời giờ của ông Thiệu được sử dụng trong nỗ lực không ngừng để tranh thủ và đối phó với người Mỹ mặc dầu phạm vi xoay sở của ông mỗi ngày một thâu hẹp; lư do giản dị là chánh sách của Mỹ sẽ quyết định sinh mạng của miền Nam Việt Nam chứ không phải cộng sản. Trong đời chánh trị của ông Thiệu có hai kẻ thù chính là cộng sản và Mỹ, và ông đă mang mối hận thù xương tủy người Mỹ đến tận cuối đời.Năm 1983, một buổi chiều ông lái xe cho tôi xem thành phố Londres, ông chỉ vào cái ảnh nhỏ của đứa con út sinh tại Londres sau 1975 gắn gần tay lái, ông nói: khi nó mới tập nói, tôi dạy cho nó: “kẻ thù của con là cộng sản và Mỹ…”. Lúc ông chết, ư nguyện của ông muốn hỏa táng để đem tro cốt về Việt Nam nếu có điều kiện, không th́ sẽ rải xuống biển chứ không muốn chôn trong ḷng đất Mỹ.
    Last edited by alamit; 28-04-2012 at 01:04 AM.

  5. #5
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,775

      Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu: Công và Tội?
      

    Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu: Công và Tội?
    Nguyễn Đạt Thịnh




    H.- Dù sao ông Thiệu đă cầm quyền 10 năm từ 1965-1975, ḥa đàm Paris kéo dài từ 1968 đến 1973 thời gian đủ để tiên liệu và thực hiện những biện pháp cần thiết hầu ứng phó với vấn đề giải kết của Hoa Kỳ nhưng ông Thiệu đă hoàn toàn thụ động. Theo ông, phải chăng t́nh trạng nầy đă đóng góp vào sự sụp đổ của miền Nam ngày 30/4/75

    Đ.- Ông Thiệu thực sự cầm quyền qua cuộc bầu cử tháng 9/1967. Trong khi quân đội Mỹ c̣n đổ quân vào Việt Nam th́ ông Thiệu đă đưa vấn đề giải quyết chiến tranh như một trong ba vấn đề căn bản của chương tŕnh tranh cử: Xây dựng dân chủ Giải quyết chiến tranh Cải tạo xă hội. Sau vụ Tết Mậu thân 1968, ông Thiệu là người chủ động đưa ra đề nghị Hoa Kỳ có thể thực hiện việc rút quân từng giai đoạn trong mục tiêu tranh thủ thời gian đổi lấy viện trợ kinh tế và quân sự v́ ông hiểu Việt Nam Cộng Ḥa sẽ không có tư thế tại hội nghị ḥa đàm nếu không chủ động trên chiến trường v.v…. Nếu cai trị là tiên liệu th́ ông Thiệu là người có khả năng tiên liệu nhưng ông không có khả năng để thay đổi được chính sách của Hoa Kỳ trong chiến lược toàn cầu mà vị thế địa lư chánh trị của miền Nam Việt Nam không c̣n nằm trong quyền lợi ưu tiên của Mỹ, mặt khác, chúng ta không c̣n ở vào thời đại có thể dùng “tầm vông vọt nhọn” để chống trả với quân thù. Năm 1967 cùng với việc tiếp tục đổ quân vào Việt Nam đại sứ Bunker đă được Tổng thống Johnson gởi sang Việt Nam với sứ mạng thực hiện việc giải kết để rút quân. Khi Nixon thắng cử 1968, đại sứ Bunker đă được yêu cầu lưu nhiệm cho đến tháng 5/1973 sau khi Mỹ đă thực hiện xong việc rút quân và lấy lại tù binh. Chính sách của đảng Dân Chủ và Cộng Ḥa Mỹ trong vấn đề giải kết chiến tranh Việt Nam hoàn toàn có tính cách nhất quán. Nếu sau Hiệp Định Genève 1954, người Mỹ ủng hộ ông Ngô Đ́nh Diệm lật đổ Bảo Đại để thiết lập nền đệ I Cộng Ḥa (1956 – 1963) như căn bản chánh trị để biện minh cho nhân dân Hoa Kỳ và thế giới về chính nghĩa của sự can thiệp vào Việt Nam nhằm ngăn chận sự bành trướng của cộng sản tại Đông Nam Á, th́ năm 1967, người Mỹ đă áp lực chánh quyền quân nhân phải khai sinh nền đệ II Cộng Ḥa, thực hiện chánh quyền dân chủ hợp hiến, hợp pháp để đưa Việt Nam Cộng Ḥa vào bàn hội nghị và tạo bàn đạp cho Hoa Kỳ ḥa đàm với cộng sản để rút quân, lấy lại tù binh, chấm dứt sự can thiệp và để miền Nam cho các phe phái chính trị tự giải quyết trên căn bản “dân tộc tự quyết”, điều mà hai thập niên trước đó Hoa Kỳ không bao giờ chấp nhận.

    H.- Ông nghĩ sao về nỗi căm phẫn của đại đa số quần chúng đối với ông Thiệu sau 30/4/75?
    Đ.- Quần chúng đánh giá lănh đạo qua sự thành bại, họ có quyền căm phẫn v́ họ là lớp người bị hy sinh nhiều nhất cho đất nước cũng như phải gánh chịu những hậu quả bi đát nhất sau 30/4/75 nỗi căm phẫn của họ là chính đáng; hơn nữa người lănh đạo cũng như thuyền trưởng một con tàu, dù tàu ch́m bởi bất cứ lư do ǵ th́ thuyền trưởng phải là người rời tàu sau cùng hoặc phải chết theo tàu; mặt khác họ không ở cương vị để có thể nh́n vào mặt trái của cuộc chiến vừa có tính cách nội chiến vừa có tính cách ủy-nhiệm mà những yếu tố quyết định hoàn toàn nằm ngoài tầm tay của người quốc gia.Tôi nhớ vào khoảng 1990 ông Thiệu có buổi nói chuyện với một số đồng bào tại Westminster, California, một người đàn bà được một tổ chức chống đối sắp đặt đă cầm micro chửi bới ông Thiệu nặng nề. Ông Thiệu chỉ trả lời: tôi rất thông cảm với nỗi căm phẫn của bà.Tôi hiểu sự im lặng của ông, nỗi cô đơn và cay đắng ông đă mang theo đến cuối đời. Ông Thiệu đă chết chắc hẳn không cần tôi biện hộ. Tôi cũng không làm công việc biện hộ mà chỉ nói lên sự thực mà tôi biết ” tôi không có bổn phận tranh luận với bất cứ ai và cũng không nhằm thuyết phục bất cứ người nào. Đối với tôi, nói những điều tốt mà người ta không có cũng tệ hại như nói những điều xấu mà người ta không phạm phải v́ tất cả đều là dối trá”, nhất là đối với những người có đời sống công liên hệ đến vận mạng quần chúng th́ c̣n là vấn đề trách nhiệm.Ông Thiệu có những lỗi lầm trầm trọng trong vấn đề lănh đạo quốc gia cũng như có những sai phạm cá nhân ảnh hưởng đến uy tín lănh đạo. Ông là một nhà chính trị thực tiễn mà hoàn cảnh và môi trường trưởng thành không thể tạo ông thành một kẻ tử đạo. Tuy nhiên, đến nay tôi vẫn nghĩ rằng nếu sự hy sinh có thể cứu văn t́nh thế th́ ông sẽ không từ nan. Lần tôi gặp lại ông ở Londres, ông nói như tâm sự: làm một người lính ra trận và hy sinh là một hành động dũng cảm, nhưng làm sao có thể sống sót để tiếp tục cuộc chiến đấu th́ thật là khó.Xét định một con người cần nh́n vào tổng thể và đặc biệt là những giờ phút nghiêm trọng sinh mạng bị thử thách. Không thể chỉ dùng những sự việc tiêu cực để tổng quát hóa mà phải xét đến các mặt tích cực của cá nhân đó. Tuy nhiên việc định công luận tội là công việc của lịch sử sau nầy.

    H.- Nhiều hồi kư chánh trị nói rằng ông Thiệu luôn luôn bị ám ảnh bởi việc người Mỹ thảm sát các ông Diệm, Nhu nên thường thay đổi chỗ ngủ hàng đêm v.v…. Điều này có thực không, và nếu thực th́ đă ảnh hưởng như thế nào đến vấn đề lănh đạo?
    Đ.- Hàng năm đến 1/11, ông Thiệu có xin thánh lễ cầu hồn cho cố Tổng thống Diệm và ông cố vấn Nhu tại dinh Độc-Lập. Ông Thiệu có kể cho tôi nhiều lần về sáng 2/11/63 sau khi thanh toán mục tiêu dinh Gia-long, ông về tŕnh diện Bộ Tổng Tham- Mưu và sau đó có ra lệnh cho lính mở bửng thiết vận xa để chào thi hài ông Diệm, Nhu trước khi về nhà.Tôi thường qua chỗ ở của ông Thiệu để làm việc những khi ông không qua văn pḥng và có khi làm việc trong pḥng ngủ khi ông bị đau, tôi không thấy dấu hiệu thay đổi chỗ ngủ hàng đêm như đồn đại sau này. Có những biện pháp an ninh lúc ông đi ra ngoài, chẳng hạn mặc áo chắn đạn, hoặc cái podium ông đứng nói chuyện ngoài bằng gỗ nhưng trong có tấm thép chắn đạn, những biện pháp an ninh đặc biệt trong các cuộc diễn binh v.v… Tôi không để ư những chuyện nầy, đây là công việc của bộ phận an ninh. Chỉ có điều là những đề pḥng nầy nhằm về phía Mỹ hơn là cộng sản. Thực ra ông Thiệu đă sống trong sự đe dọa thường trực của người Mỹ về đảo chánh và ám sát suốt thời gian từ lúc cầm quyền 1967, đến lúc rời Việt Nam đi Đài Loan 1975. Đồng minh Mỹ là một đồng minh bất trắc, khó tiên liệu, và ông Thiệu luôn ở trong t́nh trạng của người làm xiếc đi dây nguy hiểm. Có lần tôi lưu ư ông Thiệu về trường hợp Tổng Thống Magsaysay, Lư Thừa Văn, Ngô Đ́nh Diệm, ông Thiệu nói với tôi là ông không có an ninh… Trong giai đoạn giải kết, quyền lợi của Hoa Kỳ và của Việt Nam Cộng Ḥa tách rời đi đến đối nghịch, trong khi đó quyền lợi của Hoa Kỳ và của cộng sản xích lại gần nhau để đi đến thỏa hiệp chung. Nếu cộng sản áp dụng chính sách vừa đánh vừa đàm với Việt Nam Cộng Ḥa và phối hợp cuộc đấu tranh trên các mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao th́ chính sách của “đồng minh” Hoa Kỳ đối với “đồng minh” Việt Nam Cộng Ḥa cũng tương tự: cà rốt và cây gậy đă được áp dụng triệt để với ông Thiệu trên mọi b́nh diện để buộc Việt Nam Cộng Ḥa phải chấp nhận đường lối thương thuyết nhượng bộ cộng sản của Mỹ. Người Mỹ đă tiếp tay với cộng sản trong việc cổ vơ, ủng hộ các phong trào phản chiến, đ̣i ḥa b́nh, ḥa hợp ḥa giải dân tộc, lực lượng thứ ba… mà thực chất là những tổ chức trá h́nh của cộng sản nhằm phá vỡ thế hợp hiến, hợp pháp của chế độ VNCH, và đă không ngần ngại đâm sau lưng những người lính VNCH đang chiến đấu trong cái gọi là chương tŕnh “Việt Nam hóa chiến tranh” để người Mỹ rút quân. Ông Thiệu nói với tôi vụ sư đoàn 3 rút bỏ Quảng Trị 1972 là một “sabotage politique”. Nixon đă viết thư cho ông Thiệu nhắc đến ư đồ thanh toán ông Thiệu của chính quyền Johnson vào năm 1968 và vụ đảo chánh 1/11/63 như một đe dọa trực tiếp nếu ông Thiệu không tuân thủ những đ̣i hỏi của Mỹ. Vào những tháng cuối trước khi kư HĐ Paris, ông Thiệu nuôi ư định tự sát như một phương cách chống trả cuối cùng. Vào lúc căng thẳng nầy chúng tôi đă triệu tập đại hội nghị viên toàn quốc về Saig̣n, tuần hành vào dinh Độc Lập cùng các dân biểu, nghị sĩ ủng hộ lập trường “bốn không” của ông. Tài liệu của đại sứ Bunker đă ghi nhận ư định tự sát nầy của ông Thiệu qua một báo cáo của ông Trần Thiện Khiêm ghi âm cuộc đối thoại giữa ông Thiệu, Khiêm. Chính ư định tự sát nầy đă khiến ông Thiệu “ĺ lợm” trước những đe dọa của Nixon và đă đưa đến những nhượng bộ của Nixon bằng những cam kết mật.Mỗi lần nhớ đến ông Thiệu, thực sự tôi không nghĩ đến những vinh quang bề ngoài của một Tổng Thống mà là những chuỗi ngày khó khăn của đất nước, những áp lực có tính cách quyết định ngày đó của Hoa Kỳ đă đè nặng lên ông, ông đă chiến đấu như một người lính đơn độc không vũ khí, bằng ḷng dũng cảm và sinh mạng của chính ḿnh. Tôi không có đức tin tôn giáo nhưng tôi vẫn cầu mong cho ông, một tín đồ ki-tô-giáo, được b́nh an và thanh thản nơi vĩnh hằng.

    H.- Có phải Tổng thống Thiệu nói với ông là việc sư đoàn 3 tháo chạy đă để lại “đại lộ kinh hoàng” và Quảng Trị thất thủ vào tháng 5/72 là một “sabotage politique” của người Mỹ?
    Đ.- Đúng như vậy.Hậu quả đă để lại hơn 20 ngàn thương vong trên “đại lộ kinh-hoàng.”

    H.- Ông Thiệu đă nói với ông trong bối cảnh nào?
    Đ.- Ngay hôm Quảng Trị thất thủ. Hôm đó vào lúc xế chiều tôi đang họp trung ương đảng bộ Dân-Chủ tại lầu nhà trắng trong khuôn viên dinh Độc-Lập th́ được điện thoại của nhân viên văn pḥng cho biết đại tá Đỗ Đức Tâm, thuyết tŕnh viên quân sự của Tổng Thống đang có mặt tại Văn Pḥng của tôi để thuyết tŕnh về t́nh h́nh quân sự sau khi vừa thuyết tŕnh cho Tổng Thống xong. V́ bận họp nên tôi yêu cầu đại tá Tâm gặp tôi tại lầu nhà trắng để thuyết tŕnh cho tất cả cùng nghe. Sau phần thuyết tŕnh, tôi nhớ rơ câu hỏi sau cùng của nghị sĩ Trần Trung Dung, nguyên Phụ Tá Bộ Trưởng Quốc Pḥng của Tổng thống Diệm: “liệu chúng ta có giữ được Quảng Trị không?” Đại tá Tâm “…chắc chắn chúng ta giữ được.” Chừng nửa giờ sau, điện thoại trên bàn họp reo, tôi nhắc máy, đầu dây là đại tá Tâm cho biết trung tướng Hoàng Xuân Lăm, tư lệnh quân đoàn I vừa điện tŕnh Tổng Thống là Quảng trị đă thất thủ trưa hôm nay. Sự việc cho thấy là Trung tướng Lăm không biết sư đoàn 3 rút bỏ Quảng trị và như vậy là đă có một “sự cố bất thường” xẩy ra nên tôi bỏ pḥng họp đi gặp Tổng thống Thiệu ngay lúc đó. Tôi thấy ông rất b́nh tĩnh. Ông nh́n tôi nói: tôi điện thoại gần như mỗi ngày cho ông Lăm về t́nh h́nh quân sự Quảng trị, tối qua tôi c̣n nhắc ông Lăm phải coi chừng “thằng cộng sản” ngày 1/5, ông Lăm bảo đảm với tôi là không việc ǵ, thế mà như vậy. Ông dằn mạnh: đây là một “sabotage politique”.Lúc bấy giờ chỉ có tôi và ông.Những chuyện như vậy thuộc loại “cấm kỵ không phải có thể nói với bất cứ ai và không bao giờ ông nói khi có sự hiện diện của người thứ ba. Đó là nguyên tắc ngăn cách ông vẫn thường áp dụng và cũng là cách để bảo đảm sựï an toàn cho chính ông. Trong trường hợp này, ông Thiệu là người duy nhất có đủ yếu tố chính trị để thẩm định, v́ ông là người trực tiếp chịu các áp lực của Mỹ. Bấy giờ là tháng 5/1972, trong mật đàm Paris Mỹ và cộng sản đă đạt được các thỏa thuận căn bản, chỉ c̣n trở ngại về phía ông Thiệu. Gần đây tôi có đọc một chứng liệu của Đại sứ Bunker thuật lại phiên họp tại dinh Độc-Lập một ngày sau khi Quảng trị thất thủ giữa Đại sứ Bunker, Tướng Abrams và Tổng thống Thiệu. Ông Thiệu đă không hề quy trách cho các giới chức quân sự Việt Nam, ông im lặng một cách khó hiểu và măi đến phút cuối cùng “bật nói”: “…không có lư do ǵ Quảng trị lại bị thất thủ, tướng Giai phải chịu trách nhiệm về việc nầy.”Tướng Vũ văn Giai, Tư lệnh sư đoàn 3 giới tuyến, được di tản bằng trực thăng của Mỹ, bỏ lại binh sĩ và dân chúng với “đại lộ kinh hoàng” – đă bị đưa ra Ṭa án quân sự, bị tước đoạt binh quyền và ở tù.Tổng thống Thiệu đă ra lệnh tái chiếm Quảng trị ngay sau đó mặc dầu biết rằng Quảng trị sẽ thành một đống gạch vụn, sẽ phải hy sinh những người lính thiện chiến của những đơn vị thiện chiến nhất mà tổn thất khó có thể bù đắp được trong thực tế bấy giờ nhưng ông đă phải quyết định như vậy, một quyết định chính trị để chứng tỏ quyết tâm của quân dân miền Nam với thế giới, với nhân dân Hoa Kỳ, nhằm chống trả các thỏa hiệp mật giữa cộng sản và Mỹ mà sau nầy được cụ thể trong Hiệp Định Paris 1973.Cũng tương tự như vậy, việc Trung Cộng chiếm Hoàng Sa vào đầu năm 1974 đă được sự thỏa thuận ngầm của Mỹ để đặt cộng sản Hà Nội sau nầy trước một “fait accompli”. Ông Thiệu biết Hải Quân Việt Nam không đủ sức đương đầu với hải quân Trung Cộng và hạm đội 7 Hoa Kỳ sẽ không can thiệp nhưng ông vẫn ra lệnh tái chiếm như một chứng liệu về chủ quyền lănh thổ sau nầy.Bởi chính sách hai mặt của Hoa Kỳ, nhiều áp lực nặng nề riêng cá nhân ông phải chịu đựng không được chia sẻ và trong nhiều trường hợp ông phải đưa ra những quyết định chuyên độc mà không thể giải thích với đồng bào cùng chiến hữu của ông.

    H.- Nhận định của ông Thiệu về vụ sư đoàn 3 tháo chạy có mâu thuẫn với các quyết định của người Mỹ mở rộng chiến tranh qua các cuộc tấn công của QLVNCH vào hậu cần của cộng sản tại Miên năm 1970 và hành quân Lam Sơn 719 ở Hạ Lào 1971 hay không?
    Đ.- Không. Các cuộc tấn công vào hậu cần cộng sản tại Miên 1970 và Hạ Lào 1971 chỉ có tính cách nhất thời nhằm mục đích chính là dùng xương máu của quân đội VNCH để mở rộng hành lang an toàn cho việc triệt thoái quân đội Mỹ.Ông Thiệu miễn cưỡng phải chấp nhận mở cuộc hành quân Lam Sơn 1971 v́ Hạ Lào tiếp giáp với hậu phương lớn Bắc Việt. Khi có dấu hiệu sa lầy ông đă ra lệnh cho trung tướng Hoàng Xuân Lăm đưa ngay một đơn vị vào Tchepone “đái một băi” (nguyên văn) và rút ra ngay lập tức. Cần lưu ư là chương tŕnh rút quân của Mỹ không phụ thuộc vào khả năng thay thế của quân lực VNCH, và chương tŕnh Việt Nam hóa thực chất chỉ nhằm yểm trợ cho việc rút quân của Mỹ chứ không phải để VNCH có đủ sức đề kháng và tồn tại.

    H.- Sau này, nhiều người trong đó có những viên chức chính phủ của ông Thiệu cho rằng ông Thiệu đă dựa vào những cam kết mật của Tổng thống Nixon nên đă chấp nhận kư kết Hiệp Định Paris v́ không hiểu rơ tổ chức công quyền của Hoa Kỳ thẩm quyền của hành pháp và lập pháp. Như tiến sĩ Kissinger đă nhận định: đó chỉ là những ư định của Tổng thống Nixon, không có tính cách cam kết quốc gia v́ không có phê- chuẩn của quốc-hội.
    Đ.- Vào lúc bấy giờ ông Thiệu cũng hiểu như giải thích của Kissinger sau nầy, nhưng ông cũng hiểu rơ vị thế yếu kém của VNCH và giới hạn cuối cùng mà ông có thể đ̣i hỏi ở Nixon. Ông Thiệu có chủ định rơ ràng là mua thời gian c̣n lại của nhiệm kỳ Nixon trong hoàn cảnh “c̣n nước c̣n tát”.Chúng ta cần nhớ rằng không hề có một hiệp ước Việt Mỹ nào về việc Mỹ đổ quân và tham chiến ở Việt Nam cũng như không có một văn kiện pháp lư nào về quy chế trấn đóng của quân đội đồng minh trên lănh thổ Việt Nam bấy giờ. Những tiểu đoàn TQLC Mỹ đầu tiên đổ bộ vào Đà Nẵng đầu năm 1965 dưới thời chính phủ Phan Huy Quát, ông Thiệu là Tổng trưởng Quốc Pḥng kiêm Phó Thủ tướng; ông nói với tôi: t́nh h́nh bấy giờ hơn hai phần ba lănh thổ bị cộng sản ung thối, nếu quân đội Mỹ không can thiệp kịp th́ miền Nam mất. Thời đệ I Cộng Ḥa, Tổng thống Diệm muốn có một hiệp ước hỗ-tương như ở Đại Hàn nhưng người Mỹ từ chối. Các cố vấn quân sự Mỹ đến và đi không qua sự kiểm soát của nhà chức trách Việt Nam. Miền Nam Việt Nam trong cuộc chiến chống cộng sản hoàn toàn bị phụ thuộc Hoa Kỳ, chúng ta không ở vào vị thế có thể đặt điều kiện với họ. Quân đội Mỹ muốn đến là đến, muốn đi là đi, hậu quả là vấn đề đơn phương rút quân, Việt Nam hóa, Hiệp Định Paris. Tương quan Việt Mỹ là một tương quan thực tế mà người Mỹ cố t́nh không để bị ràng buộc vào những văn kiện pháp lư “giấy trắng mực đen” như ở Triều tiên, Nhật bản, Âu châu là những nơi Hoa Kỳ có mục tiêu dài hạn.

    H.- Đến bao giờ th́ ông Thiệu mất tin tưởng vào các cam kết mật của Nixon? Vụ ông Thiệu quyết định không tái chiếm Phước Long vào đầu năm 1975 có phải là một trắc nghiệm về những cam kết mật hay không?
    Đ.- Ngay sau cuộc gặp gỡ Thiệu Nixon tại San Clemente tháng 4/73. Về phương diện biểu kiến cuộc gặp gỡ mang nhiều ư nghĩa tích cực như là một sự xác nhận các cam kết mật, sự tiếp tục ủng hộ của Hoa Kỳ với VNCH và đặc biệt với ông Thiệu, nhưng thực tế hoàn toàn trái ngược. Cuộc gặp gỡ mặt đối mặt đă khẳng định cho ông Thiệu thấy không c̣n hy vọng vào các cam kết mật cũng như các viện trợ quân sự và kinh tế đă được hứa hẹn trước đây. Đây là lư do và thời điểm quyết định việc tu chính hiến pháp: gia tăng nhiệm kỳ 3 tổng thổng. Cuộc độc cử 1971 đă làm sút giảm uy tín chính trị của ông Thiệu; Hiệp Định Paris thừa nhận cho quân đội Bắc Việt ở lại miền Nam, ngưng bắn tại chỗ, chinh phủ liên hiệp ba thành phần đă hoàn toàn xóa bỏ lập trường bốn không của ông; người Mỹ đă hoàn tất việc rút quân và lấy lại tù binh; và nay là hiểm họa Hoa Kỳ bỏ rơi… khiến ông Thiệu bị lột truồng như câu chuyện ông vua không quần áo (the emperor without any chothes) và hoàn toàn trắng tay. Tư thế lănh đạo của ông Thiệu bị đặt trong hoàn cảnh thử thách nghiêm trọng và đây là lư do thực sự của vụ tu chính hiến pháp đă không bao giờ được tiết lộ. Nội dung tu chính bấy giờ được giữ mật v́ phải chờ sau cuộc bầu cử bán phần Thượng nghị viện tháng 10/73 mới đủ túc số thực hiện. Việc tu chính không nhằm vào nhiệm kỳ 3 Tổng Thống mà mục đích thực sự là bày tỏ sự tín nhiệm của dân chúng qua Quốc Hội “để tái trang bị tư thế lănh đạo của ông Thiệu hầu đối phó với t́nh thế mới. Dù muốn hay không sinh mạng chính trị của ông Thiệu đă gắn liền với sự c̣n mất của chế độ và sau ông sẽ là trận hồng thủy. Trong cuộc gặp các dân biểu, nghị sĩ ủng hộ tu chính Hiến Pháp tại hội trường khách sạn Majestic vào đêm trước hôm biểu quyết, tôi có nói rơ: “đây không phải là hành động ủng hộ cá nhân Tổng thống Thiệu mà là hành động của mỗi chúng ta để tự cứu”. Có thể họ hiểu là t́nh h́nh nghiêm trọng nhưng không biết là đang bị Hoa Kỳ bỏ rơi và đất nước đă ở trên bờ vực thẳm. Nếu Kissinger đă tiên liệu thời gian có thể coi được (decent interval) từ HĐ Paris 1/73 đến lúc miền Nam sụp đổ là một năm rưỡi th́ ông Thiệu đă tiên liệu một thời gian ngắn hơn. Đầu năm 1974 cũng là lúc Quốc Hội biểu quyết tu chính Hiến Pháp, ông Thiệu nói tại Hội đồng Tổng trưởng: “…các quan sát viên quốc tế rất ngạc nhiên khi thấy chúng ta c̣n ngồi ở đây hôm nay, tất cả đều nghĩ rằng miền Nam Việt Nam chỉ có thể tồn tại không quá sáu tháng sau HĐ Paris…”. Như một người chết đuối vớ bất cứ bèo bọt nào, ông ra lệnh mật cho Bộ Tổng Tham Mưu kiểm thính điện đài các dàn khoan để t́m hiểu trữ lượng dầu hỏa với hy vọng Mỹ sẽ không bỏ rơi Việt Nam, ông nói: tôi sẽ làm bộ trưởng dầu hỏa chứ không làm tổng thống. Ông chỉ thị cho chính phủ tạo điều kiện dễ dàng cho ngoại quốc đầu tư, ông nói với tôi: bây giờ cho không để bọn nó vào (đầu tư) cũng phải “cho không”.Đối với cộng sản, cuộc tấn công chiếm Phước Long đầu năm 1975 là một trắc nghiệm về ư đồ tái can thiệp của Mỹ được mệnh danh là đ̣n “trinh sát chiến lược”, sau đó Bộ Chính trị đă quyết định mở chiến dịch Tây Nguyên và tiếp theo là chiến dịch Hồ Chí Minh. Đối với ông Thiệu quyết định không tái chiếm Phước Long v́ sẽ tổn thất rất nặng không thể bù đắp, có chiếm lại cũng không giữ được, lực lượng trừ bị không c̣n và phải bảo toàn lực lượng cho các cuộc tấn công sắp tới của cộng sản.

    H.- Ngoài việc tu chính gia tăng ba nhiệm kỳ Tổng Thống, c̣n có việc gia tăng thời hạn mỗi nhiệm kỳ từ 4 năm lên 5 năm. Lư do?
    Đ.- Lư do được viện dẫn của tu chính là chương tŕnh kinh tế ngũ niên nhưng sự thực là chúng tôi muốn có khoảng cách xa giữa cuộc bầu cử Tổng Thống Mỹ và Tổng Thống Việt Nam v́ nhiệm kỳ Tổng Thống Mỹ cũng 4 năm, và cứ 4 năm th́ nước Mỹ lại bị một cơn sốt chính trị ảnh hưởng nặng nề đến cuộc bầu cử Tổng Thống Việt Nam. Đây không phải là mục tiêu chính của tu chính Hiến Pháp nhưng nhân việc tu chính Hiến Pháp th́ chúng tôi bỏ vào luôn.

    H.- Ông Thiệu có tham khảo ư kiến của người Mỹ về việc tu chính Hiến Pháp hay không?
    Đ.- Không.Như tôi đă nói ở trên, nội dung tu chính Hiến Pháp đă được quyết định ngay sau khi Tổng thống Thiệu ở San Clemente về nhưng được giữ mật cho đến sau cuộc bầu cử bán phần TNV tháng 10/73. Đại sứ Martin chỉ được Tổng thống Thiệu thông báo sau khi dự luật tu chính được đệ nạp tại Quốc hội tức là vào khởi đầu giai đoạn công khai. Ông Thiệu nói với tôi: Ngày hôm qua tôi có mời ông Martin vào đây (dinh Độc Lập) để thông báo về việc chúng ta tu chính Hiến Pháp tôi nói với ông Martin là tôi nhận thấy có bổn phận phải thông báo cho ông đại sứ v́ Hoa Kỳ là đồng minh chính yếu đă giúp đỡ chúng tôi trong cuộc chiến. Cụ Hương được ông Thiệu thông báo vào lúc dự luật tu chính được đưa cho các dân biểu, nghị sĩ đứng tên tác giả v.v… Nội vụ hoàn toàn được giữ mật cho đến giờ cuối.ÔNG NGÂN NÓI NHIỀU về vai tṛ xấu xí của người Mỹ tại Việt Nam. Điều này không phải là một khám phá mới.Chúng ta cảm phục chế độ chính trị dân chủ và tổ chức kinh tế, xă hội công bằng và cổi mở của Hoa Kỳ, nhưng nhiều người bất măn về ngoại chính của họ đối với Việt Nam ngày trước, và đối với nhiều nước khác hiện nay.Ông Ngân cũng thành công trong việc vẽ ra một ông Thiệu sợ Mỹ hơn sợ Việt Cộng, ưu tư và toan tính đối phó với Mỹ hơn là t́m cách bảo vệ miền Nam bằng những phương tiện quân sự eo hẹp hơn, nhưng cũng thích hợp hơn với hoàn cảnh của đất nước.Nhưng ông không trả lời đúng vào câu hỏi thứ 3, về việc ông Thiệu không làm những điều cần phải làm để bảo vệ đất nước trong giả thuyết người Mỹ giải kết. Ông nói ông không bào chữa cho ông Thiệu, nhưng trút toàn bộ trách nhiệm làm mất Việt Nam cho Hoa Kỳ lại là cách bào chữa kiến hiệu nhất.Ông Thiệu sợ Mỹ nhưng cũng chính ông lại tuyên bố là “không có viện trợ Mỹ, tôi không làm tổng thống nữa”, xin ông Ngân giải thích mâu thuẫn này.Quan trọng nhất vẫn là vai tṛ của ông Thiệu trong những ngày tháng cuối cùng của Nam Việt.

    (Theo BC Thời Báo – Nguyễn Đạt Thịnh)
    Last edited by alamit; 28-04-2012 at 01:00 AM.

  6. #6
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,775

      Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu: Công và Tội?
      

    Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu: Công và Tội?
    Ngô Đ́nh Diệm và Nguyễn Văn Thiệu - Ai hơn Ai ?


    Lịch Sử sẽ xét lại hết tất cả để trả lại sự công bằng, Công Lư và Sự Thật - không ai có thể gian dối, che giấu CÔNG LƯ và SỰ THẬT măi măi dưới ánh mặt trời.



    Lê Tử Hùng

    HAI CHẾ ĐỘ, HAI TỔNG THỐNG
    - 50 năm Đệ Nhất Cộng Ḥa (1955 - 2005)
    - 38 năm Đệ Nhị Cộng Ḥa (1967 - 2005)

    Lịch sử chính thống viết không ngụy trang, viết không ngụy biện, thêm bớt, bênh vực, chỉ trích, có ǵ nói nấy từ nhân vật cho đến sự kiện mấy khi có được. T́m sử liệu khách quan không thiếu nhưng phần nào ảnh hưởng do người viết th́ xưa nay hăy c̣n tồn tại.

    Người ta thường nói: Sức mạnh của một ng̣i viết bằng một sư đoàn th́ dư luận là một loại binh thư truyền khẩu b́nh dân tủn mủn mà vẫn có công hiệu trong đa số quần chúng b́nh dân đối với các quốc gia kém mở mang, chậm tiến về kinh tế, văn hóa, giáo dục. V́ thế vào thời kỳ Đệ Nhất và Đệ Nhị Việt Nam Cộng Ḥa có nhiều tiếng đồn đăi vô căn cứ làm tổn hại cho chính quyền nhất là vị lănh đạo quốc gia.

    Nói đến nền Đệ Nhất Cộng Ḥa tất nhiên phải nói đến Tổng Thống Ngô đ́nh Diệm. Tiếng khen chê về chế độ để cho lịch sử phán xét. Cũng như nền Cộng Ḥa Đệ Nhị khi đề cập tới phải nói đến Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Hai vị Tổng Thống của hai giai đoạn Cộng Ḥa Nam Việt Nam cùng một thể chế, cùng một nền Cộng Ḥa, cùng một cương vị như nhau - Tổng Thống kiêm Tư Lệnh Tối Cao Quân Đội. Duy chỉ có khác, Tổng Thống Diệm ngoài hai chức vụ vừa nói, ông Diệm kiêm luôn Bộ Trưởng Bộ Quốc Pḥng. Cho nên dưới thời Tổng Thống diệm chỉ có Phụ Tá Bộ Trưởng Quốc Pḥng ngang hàng với chức Bộ Trưởng. Vị Phụ Tá Bộ Trưởng Quốc Pḥng được nhiều người và dân chúng biết nhiều nhất là Ông Trần Trung Dung. Tất nhiên có nhiều cái khác nữa giữa nội các chính phủ của Tổng Thống Diệm với nội các chính phủ của Tổng Thống Thiệu nhưng chỉ lấy những điểm mà người dân dễ thấy, dễ biết và có lúc dễ dàng xuyên tạc ra câu đối, câu vè, chuyện tiếu lâm.

    Bên cạnh chính phủ của ông có những người thân tín ruột thịt như Ông Ngô Đ́nh Nhu, cố vấn Tổng Thống Diệm, một chức vụ ngoài nội các. Ông Nhu c̣n là một Dân biểu Quốc Hội mà dưới mắt dân chúng theo dơi những phiên khoáng đại hoặc những buổi họp Quốc Hội không hề thấy ông Nhu đi họp. Ông c̣n là Thủ lănh Thanh Niên Cộng Ḥa. Một d0oàn thể ngoại vi cho chế độ. Ông lại là cha đẻ của thuyết Cần Lao Nhân vị. Đảng trưởng phong trèo Cách Mạng Quốc Gia. Ông Ngô đ́nh Luyện, một trong người em Tổng Thống Dioem giữ chức Đại Sứ Anh Quốc cho đến năm 1963 ,chế độ sụp đổ th́ chức Đại Sứ của ông Luyện cũng không c̣n nữa. Ông Ngô Đ́nh Cẩn, em ông Diệm, ông Nhu, anh ông Luyện giữ chức ngoại vi, cố vấn chỉ đạo Miền Trung nhưng chi phối cơ quan an ninh tư trong chính phủ cũng như quan đội không phải là nhỏ. Đức cha Ngô Đ́nh Thục vị lănh đạo tinh thần xứ Vĩnh Long rôi Huế cũng chi phối chính phủ và quân đội rất lớn nhất là lănh vực tôn giáo. Bà Ngô đ́nh Nhu nhũ danh Trần Lệ Xuân vợ của ông Cố Vấn Ngô đ́nh Nhu nắm giữ hai phong trào ngoại vi là Thanh Nữ Cộng Ḥa và Phong Trào Liên Đới Phụ Nữ.

    Bà c̣n là dân biểu Quốc Hội đưa ra Đạo Luật Gia Đ́nh nổi tiếng làm xôn xao dư luận bất lơi hơn là có lợi cho chế độ. Bà Ngô đ́nh Nhu cũng như ông Ngô đỉnh Nhu không bao giờ có mặt những phiên họp Quốc Hội. Bà Ngô Đ́nh Nhu là Thứ nữ của ông bà Luật Sư Trần Văn Chương một gia đ́nh gia thế, điền chủ Miền Nam. Ông Bà Trần Văn Chương là quan sát viên tại Liên Hiệp Quốc đại diên cho chính phủ và chế độ. Đó là chưa kể những bạn bè, đồng chí, thân bàng quyến thuộc xa và những người đồng hương được chọn lựa vào những cơ quan trọng yếu bảo vệ chính quyến. Chính quyền tổng Thống Diệm kéo dài chín năm. Đến tháng 10 năm 1963 chấm dứt. Nếu tính đến tháng 10 năm 2005 th́ chính thể Đệ Nhất Cộng Ḥa kỷ niệm 50 năm ( 1955 - 2005 ).

    Về phần Tổng Thống Thiệu thuộc gia đ́nh Trung nông. Hoạn lộ đi từng bước một thuần túy quân ngũ. Ông lên chức Tổng Thống từ năm 1967. Dù thời gian ngắn trước đó ông đóng vai tṛ nguyên thủ quốc gia nhưng thể chế không rơ ràng. Ông cũng như ông Diệm lên làm Tổng Thống do phổ thông đầu phiếu. Trong nội các chính phủ ông thiệu có bà con ruột thịt tham gia. Ông Nguyễn Văn Kiểu đại sứ tại Trung Hoa Dân Quốc ( Đài Loan ) là anh ruột của Tổng Thống Thiệu. Cố vấn và Bí thư Hoàng Đức Nhả là cháu của Tổng Thống Thiệu. Ông Nhă c̣n giữ chức Tổng Cục Dân Vận ngang hàng với Thứ Trưởng. Bộ Trưởng Thông Tin rồi Bộ Trưởng Quốc Gia giáo dục Ngô Khắc Tĩnh cũng lả bà con thân thuộc của Tổng Thống Thiệu. Có một nhân vật người ta hiểu lầm là bà con với Tổng Thống Thiệu là Chuẩn Tướng Nguyễn Khắc B́nh, Tư Lệnh Cảnh Sát kiêm Phủ Đặc Ủy Trung Ương T́nh Báo. Ông B́nh quê quán Bạc Liêu, ông Thiệu quê quán Phan Rang, bà thiệu quê Mỹ Tho. V́ thế Ông Thiệu và ông Nguyễn Khắc B́nh chẳng có ǵ liên đới họ hàng thân thuộc.

    Nếu c̣n nghi ngờ, phu nhân của Tướng B́nh bà con với bà Thiệu th́ cũng nói luôn, bà B́nh là người Cần Thơ. Thế là toàn bộ chắc ăn, hai gia đ́nh ông Thiệu, bà Thiệu và gia đ́nh Chuẩn Tướng B́nh chẳng liên hệ dây mơ rễ má ǵ cả. Bà B́nh thứ nữ - con gái út của Giáo sư Bùi Văn Nên, một vị giáo sư mô phạm khả kính trường Trung Học Nguyễn Đ́nh Chiểu Cần Thơ. Bà có ba bà chị nổi tiếng, bà Bùi Tuyết Mai phu nhân của một vị bác sĩ mà ai ở Cần Thơ vùng Chợ Mới đều biết đến. Đó là bác sĩ Hiệp. Mỗi lần ai đi chợ mới chỉ cần bảo xích lô chở tới ngă ba Bác sĩ Hiệp th́ không thể lạc đường. V́ bác sĩ Hiệp là một lương y. Bà Bùi Tuyết Mai đổ cử nhân khoa học ở Montpellier Pháp. Bà chị kế tiếp là nữ giáo sư Bùi Tuyết Hồng giáo sư Pháp văn cho các trường Trung học Pétrus Kư, Vơ Trường Toản, Centre Culturel Fransais Sài G̣n. Bà đổ cử nhân văn chương tại Đại Học Montpellier Pháp. Ai là thuyền nhân đến các trại tỵ nạn Thái Lan vào thập niên 80 đều biết danh tiếng cứu trợ của bà. V́ khi ấy bà là phu nhân của Đại sứ Ḥa Lan tại Thái Lan. Bà chị kế tiếp của bà Chuẩn Tướng B́nh là bà Bùi Tuyết Vân phu nhân của Trung Tá Trần Thanh Nhiên.

    Trung Tá Trần Thanh Nhiên đă từng phục vụ tại Trung Ương T́nh Báo số 3 đường Bạch Đằng Sài G̣n (bên cạnh Bộ Tư Lệnh Hải Quân) rồi giữ chức Tỉnh Trưởng Bến Tre, kế tiếp Tỉnh Trưởng Mộc Hóa dưới thời Tổng Thống Thiệu. Ông đột ngột xin từ chức Tỉnh Trưởng Mộc Hóa mà đến nay không mấy ai biết v́ lư do ǵ. V́ ông không nói tại sao cả. Tuy nhiên dư luân đồn đăi,ông là Tỉnh Trưởng trong sạch bị áp lực tham nhũng ở cấp trên mà ông không thực hiện nên quyết định từ chức. Chuyện nầy chỉ có ông và trời biết mà thôi. Hiện nay gia đ́nh Tướng B́nh, Trung Tá Trần Thanh Nhiên trú ngụ tại San José, thuộc miền Bắc California.

    Trở lại chuyện Tướng B́nh cho sáng tỏ về sự liên đới bà con với Tổng Thống Thiệu hay không. Trước năm 1963, Thiếu Tá Nguyễn Khắc B́nh giữ chức Tỉnh Trưởng Mỹ Tho. Nhân cuộc đảo chánh 1/11/ 1963, Đại Tá Nguyễn Hữu Có (về sau là Trung Tướng Nguyễn Hữu Có ) một trong những Ủy Viên của Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng do Tướng Dương Văn Minh đang ở trong ṿng bí mật, hoạt động lật đổ chính quyền Ngô đ́nh Diệm đă được lệnh tối mật từ Sài G̣n xuống Mỹ Tho chiêu dụ Thiếu Tá Tỉnh Trưởng Nguyễn Khắc B́nh theo phe đảo chánh. Đại Tá Có yêu cầu Thiếu tá Tỉnh Trưởng cất bắc Mỹ Thuận trước 12 giờ trưa ngày 1/11/ 63 với mục đích cắt quốc lộ miền Tây chặn Tư Lệnh Vùng 4 là Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao nổi tiếng trung thành với chế độ Ngô Đ́nh Diệm.

    Dư luận lúc bấy giờ nói rằng, Thiếu Tá Tỉnh Trưởng Nguyễn Khắc B́nh lừng khừng giữa đảo chánh và chế độ Ngô đ́nh Diệm nhưng vẫn hứa tuân lệnh của Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng qua Đại Tá Nguyễn Hữu Có. Tuy nhiên vẫn hành sử dè dặt chờ thời đợi thế. V́ vậy khi tiếng súng đảo chánh nổ vang khởi đầu từ Tiểu Đoàn1 Truyền Tin do Tiểu Đoàn Trưởng Đại Úy Đỗ Như Luận và Tiểu Đoàn Phó Đại Úy Chu Văn Trung đóng quân bên cạnh sân vận động Quân đội và Bộ Tổng Tham Mưu chiếm Bộ Chỉ Huy Sở Liên Lạc để cô lập hóa vị chỉ huy trưởng sở nầy là Đại tá Lê Quang Tung ( Sở Liên Lạc thuộc Nha Kỹ Thuật ; cơ quan huấn luyện Biệt Kích thả Bắc ; sau nầy là biệt kích Lôi Hổ ). Tiểu Đoàn 1 Truyền Tin chiếm Sở Liên Lạc dễ dàng v́ ở đây chỉ là cơ quan hành chánh ngụy trang và trong lúc ấy Đại Tá Lê Quang Tung đang đi họp tại Bộ Tổng Tham Mưu do nhóm Tướng lănh đảo chánh ngụy trang buổi họp vào ngày đầu tháng để bắt giữ những sĩ quan cao cấp không theo đảo chánh. Tiếng súng đảo chánh đă lan đến, đồng nhịp tại Tổng Nha Cảnh Sát góc đường Nguyễn Trăi và đường Cộng Ḥa (tục gọi là Thành Ô - Ma) cùng Nha Cảnh Sát Đô Thành trên đường Trần Hưng Đạo. Lúc đó kim đồng hồ chỉ 1giờ 30 phút trưa ngày 1/11/1963, Đô Đốc Feld Tư Lệnh Lệnh Quân Đội Hoa Kỳ ở Thái B́nh Dương rời khỏi dinh Gia Long vừa vặn 1tiếng đồng hồ sau khi chúc mừng Tổng thống Diệm nhân dịp lễ Chư Thánh (Tous Saint). T́nh h́nh Thủ Đô trông bề bề căng thẳng và lợi điểm cho phe đảo chánh th́ tại Mỹ Tho mới có lệnh cất bắc Mỹ Thuận.

    Đảo chánh 1/11/ 63 thành công, Đại Tá Nguyễn Hữu Có báo cáo với Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng bắt giữ Thiếu Tá Tỉnh Trưởng Mỹ Tho, Thiếu Tá Nguyễn Khắc B́nh với tội trạng chống lại Hội đồng, bất tuân lệnh, tay chân trung tính của chế độ Ngô đ́nh Diệm, cất bắc Mỹ Thuận chậm trễ. Thiếu Tá Nguyễn Khắc B́nh bị giam giữ và giăi về Nha An Ninh Quân Đội ở đường Nguyễn Bỉnh Khiêm Sài G̣n. Đại Tá Có đề nghị với Hội Đồng Tướng Lănh Quân Nhân Cách Mạng đưa Thiếu Tá Nguyễn Khắc B́nh ra Ṭa Án Quân Sự xét xử. Nhưng gần một tháng sau, Tướng Nguyễn Khánh Tư Lệnh vùng 2 cùng với Đại Tá Nguyễn Chánh Thi Phó Tư lệnh làm cuộc chính biến gọi là ngày chỉnh lư.

    Tướng Khánh lên cầm quyền với Tam Đầu Chế cùng với Tướng Dương Văn Minh, Tướng Trần Thiện Khiêm ( thường gọi là chế độ ba kiềng, Khánh- Minh - Khiêm). Mọi quyền bính trong tay Tướng Khánh. Có cuộc binh biến nầy, Thiếu tá Nguyễn Khắc B́nh được thả. Và trong một thởi gian ngắn sau đó, Thiếu Tá B́nh được tái bổ nhiệm Phó Đổng Lư Bộ Quốc Pḥng. Sau một thời gian nữa ông được thăng cấp Trung tá rồi đi làm Tùy Viên Quân Sự cạnh Ṭa Đại Sứ Việt Nam Cộng Ḥa ở Tây Đức, nhiệm kỳ 2 năm. Tướng B́nh rời Việt Nam đi giữ chức tùy viên Quân Sự nhưng ông có duyên với Tổng Thống Thiệu nên được trọng dụng sau nầy. Theo dư luận lúc bấy giờ, nhân một buổi đi thăm Âu Châu có tính cách cá nhân, bà Thiệu có ghé Bonn, Thủ Đô Tây Đức lấy bấy giờ và có cuộc hội ngộ vô t́nh với phu nhân Tướng B́nh. Bà B́nh hướng dẫn bà Thiệu đi mua sắm và trở nên thân t́nh. Lư do nầy bắc cầu quen biết giữa Tống Thống Thiệu và Tướng B́nh.

    T́nh h́nh Nam Việt Nam lúc bấy giờ không mấy yên ổn ở hậu phương. Tin đồn đảo chánh liên miên được nghe qua lỗ tai người dân. Ông Thiệu chưa củng cố được nội bộ. Nghĩa là thiếu người thân tín chung quanh. Trong lúc Thiếu Tướng Không Quân Nguyễn Cao Kỳ giữ chức Phó Tổng Thống mà không thuận với ông Thiệu. Phía bên cánh ông Kỳ coi bộ mạnh hơn v́ suốt trong thời kỳ nắm chức Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp ông có một số lớn thân tính bộ hạ. Ông Kỳ bị sức ép của hội Đồng Tướng Lănh nên mói chịu đứng Phó với ông Thiệu. V́ vậy khi lên chức Tổng Thống ,Ông Thiệu khá cô đơn khi nói về những nhân vật cấp dưới trung thành với ông. V́ thế Tổng Thống Thiệu phải củng cố tay chân thân tín từng bước một. Đó là tính t́nh kỷ lưỡng của Tổng Thống Thiệu. T́nh trạng như vậy nên bà Thiệu nhắc nhở về Tướng B́nh đang ở Tây Đức. Khi vừa hết nhiệm kỳ giữ chức Tùy Viên Quân Sự, Tướng B́nh có ư định xin lưu nhiệm thêm hai năm nữa nhưng v́ lời giới thiệu tốt lành của bà Thiêu với ông Thiệu nên Tướng B́nh được gọi về nước. Tướng B́nh về, đợi lệnh bổ nhiệm trực tiếp từ Tổng Thống Phủ. Nhưng ông đă đợi chờ cả tháng mới được bổ nhiệm. Một sự bổ nhiệm làm ngạc nhiên trong giới quân nhân từ cấp Tá trở lên. Tổng Thống Thiệu bổ nhiệm một ông Trung Tá thay thế một ông Trung Tướng đang giữ chức Phủ Đặc Ủy Trung Ương T́nh Báo tọa lạc tại số 3 đường Bạch Đằng. Đó là Tướng Linh Quang Viên.

    Nhậm chức Phủ Đặc Ủy Trưởng Trung Ương T́nh Báo ngang hàng với cấp Thứ Trưởng trong nội các chính phu nhưng độc lập với hệ thống hàng dọc qua Phủ Tổng Thống. Ông B́nh là một sĩ quan giỏi về tổ chức nên chấn chỉnh lại Phủ Đặc Ủy Trung Ương T́nh Báo từ nội bộ cho tới bên ngoài được hữu hiệu hơn thởi dưới sự chỉ huy của Tướng Linh quang Viên. V́ thế ông được tin dùng. Không bao lâu ông B́nh lên Đại Tá rồi kiêm luôn Tư Lệnh Cảnh Sát và lại thời gian ngắn nữa ông được thăng cấp Chuẩn Tướng cho đến ngày Sài G̣n sụp đổ, 30 tháng 4 năm 1975. Tiếng đồn tăi trong giới sĩ quan cao cấp cảnh sát và Biện lư nói rằng Tướng B́nh ra đi lặng lẽ mà cấp thời không một lời với cấp dưới, lại c̣n ra lệnh cấm cản các cấp không được di tản. Tiếng than phiền nầy hư thực như thế nào không hiểu được nhưng chủ ư nằm trong góc cạnh về dư luận của loạt bài nầy nên nói ra đây. Và cũng chủ ư nói về Tướng B́nh để giải tỏa sự liên đới giữa Tướng B́nh với Tổng Thống Thiệu về liên đới bà con thân thuộc.

    Bây giờ tháng 10 năm 2005, đánh dấu cái mốc từ Quốc Khánh 26 tháng 10 của nền Đệ Nhất Cộng Ḥa trôi qua 50 năm, nửa thế kỷ rồi. Ngày 26 tháng 10, Quốc Khánh của nền Đệ Nhất Cộng Ḥa là ngày hội lớn của Miền Nam Việt Nam chỉ thua ngày Tết Nguyên Đán của dân tộc Việt Nam mà thôi. Nền Đệ Nhị Cộng Ḥa ngày Quốc Khánh mù mờ nếu không muốn nói là không rơ rệt của sự ấn định. Bởi thế mới sinh ra ngàyQuân Lực. Ngày Quân lực được tổ chức vào ngày 19 tháng 6 hàng năm do Tướng Nguyễn Cao Kỳ và diễn binh trên đại lộ Trần Hưng Đạo lần đầu tiên. Theo dư luận, đáng ra ngày quốc Khánh của nền Đệ Nhị Cộng Ḥa là ngày1 tháng 11, ngày lật đổ Tổng Thống Diệm, nhưng ngày ấy là ngày của nhóm Tướng lănh do Tướng Dương Văn Minh chiến thắng Tổng Thống Diệm, nên Tổng Thống Thiệu tránh né khỏi mất ḷng với khối công giáo và những Đảng phái chống nhóm Tướng lănh Dương Văn Minh. V́ thế dưới thời Tổng Thống Thiệu chỉ có ngày Quân Lực khá rộn ră nhưng không thể bằng ngày Quốc Khánh 26 tháng 10 dưới thời Tổng Thống Diệm.

    Nền Đệ Nhất Cộng Ḥa có những năm đầu dân chúng ,đất nước trong ḥa b́nh. Tổng Thống Diệm có thời gian chấn chĩnhđất nước và quân đội. Từ 1955 đến 1960, tính được 4 năm thanh b́nh, dù có hoạt động du kích của Việt Cộng mà chính phủ hầu như giấu kín. Những cuộc hành quân của quân đội có vẻ bí mật. Măi đến ngày 20 tháng 12 năm 1960 Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam do Hà Nội thành lập th́ chính quyên mới công khai cho toàn dân biết cộng sản gay chiến tranh ở miền Nam Việt Nam. Kể từ đó Nền Đệ Nhất Cộng Ḥa ở trong bầu không khí chiến tranh. Dưới thời Tổng Thống Thiệu lănh đạo chiến tranh triền miên và khốc liệt không ngưng nghỉ. Tổng thống Diệm đối ngoại, đối nội tương đối không khó khăn v́ giải giới giáo phái, ngăn chận các đảng phái hoạt động chỉ có đảng Cần Lao Nhân Vị và Phong trào Cách mạng Quốc gia là hoat động công khai.Về đối ngoại nhiều quốc gia trên thế giới giao hảo va 2 công nhận nền Đệ Nhất Cọng Ḥa. Hoa Kỳ cam kết giúp đỡ, viện trợ. Phái bộ cố vận Mỹ ở cấp Bộ về hành chánh. Cố vấn quân sự cấp quân đoàn và sư đoàn.

    Tổng Thống Mỹ đón tiếp Tổng Thống Diệm nguy nga tráng lệ ở Hoa Thịnh Đốn, Thủ Đô nước Mỹ và Tổng Thống Mỹ Esenhower tuyên bố Nam Việt Nam là tiền đồn chống Cộng ở Đông Nam Á, cam kết viện trợ triệt để. Tổng thống Thiệu với nền Đệ Nhị Cộng Ḥa gặp phải rất nhiều khó khăn. Giặc bên ngoài và nội loạn bên trong. Cả hai đều là hai kho thuốc súng lúc nào cũng muốn bùng nổ. Suốt 8 năm cầm quyền từ một vị Tướng lănh mái tóc đen trở thành bạc trắng về phía phía sau đỉnh đầu. Ben ngoài Thủ Đô Cộng quân hằng ngày tấn công ở các đơn vị quân đội đóng quân. Nhiều kế hoạch hành quân trên bốn vùng chiến thuật thanh toán diệt Cộng không rảnh tay mà chiến tranh càng ngày càng leo thang khốc liệt. Viện trợ Mỹ dồi dào cho chiến sự hơn là kiến thiết xứ sở. Kinh phí viện trợ thời Tổng Thống Thiệu gấp bội phần thời Tổng Tống Diệm . Điều dễ hiểu là kinh phí quân sự dồi dào để tảo thanh Việt Cộng. Cũng như Tổng Thống Diệm, Tổng Thống Thiệu không thắng được Cộng sản trên chiến trường chính trị mà có thể thắng Cộng Cộng quân trên chiến trường. Thời Tổng Thống Diệm chỉ có phái bộ cố vấn Hoa kỳ. Thời Tổng Thống Thiệu, cả năm trăm ngàn quân Hoa kỳ vào Nam Việt Nam và có mặt trong bốn Quân Đoàn, bốn vùng chiến thuật. Cố vấn Mỹ hiện diện xuống đến cấp quận về hành chánh và cấp Tiểu Đoàn về quân sự.

    Trong bối cảnh chính trị và quân sự hồi bấy giờ với một Miền Nam vừa khôi phục thoát ra khỏi quỹ đạo của người thực dân Pháp th́ dần đến lệ thuộc viện trợ Mỹ. Một tiểu nhược quốc lại bị chia hai, miền Nam Việt Nam và miền Bắc Việt Nam, hai thể chế khác nhau, ngược nhau, chống nhau, tiêu diệt tranh chấp để sinh tồn. Một một cụm từ ngữ trong báo chí , trong sách vở , trong những bích chương tuyên truyền là cuộc chiến ư thức hệ giữa quốc gia và cộng sản. Miền Nam hô hào bài phong, đả thực, diệt cộng. Miền Bắc hô hào tiêu diệt Ngụy quân, Ngụy quyền, lính đánh thuê từ Pháp đến Mỹ rồi tiến dần đến đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào.
    Song song với việc tuyên truyền ấy, miền Bắc khai thác tuyên truyền truyền khẩu trong dân gian, cốt cán nhắm mục tiêu vào các đô thị qua những phu xích lô, những quán hớt tóc, những chợ xép, quán cóc đầu đ́nh xó chợ... Xuyên tạc, bôi đen chế độ, thổi phồng dư luận tràn ngập lên giới trí thức, chánh khách như chuyện chắc nịch, có thật trên đời, dù ban đầu minh định hoang tưởng. Như vào thời Đệ Nhất Cộng Ḥa chế độ đang được ḷng dân qua sự tín nhiệm Tong Thống Ngô Đ́nh Diệm th́ dư luận xuyên tạc vào ông Cố Vấn Ngô đ́nh Nhu. Nào ông Nhu là loại người thâm hiểm. Ông là cái sườn của chế độ, không có ông là chế độ sụp đổ bất cứ lúc nào. Ông Diệm bám vào ông Nhu để điều hành quốc gia. Ông Nhu nghiện thuốc phiện nên ông có nhiều thủ đoạn không ai tiên đoán trước được hành động của ông. Ông là hạng mưu sĩ đáng sợ. Trong lúc ấy những nhân vật trọng yếu ở Dinh Độc Lập rồi khi Dinh nầy bị đánh bom, Tổng Thống Diệm về Dinh Gia Long, xác nhận rằng, ông Nhu không hề hút thuốc phiện mà hút thuốc lá đen, đốt liền tay. Ông hút thuốc lá như mưa nên bà Nhu giới hạn, chỉ cho ông hút bốn điếu một ngày mà từng điếu thuốc đă cắt ra làm đôi. Hết thuốc phiện đến mô tả sự lầm ĺ , khinh người, khinh luôn cả hàng Bộ trưởng và Tướng lănh.

    Sự tuyên truyền qua dư luận chủ ư làm mất uy tín cá nhân ông Nhu ảnh hưởng qua chế độ trong lúc Tổng Thống Diệm luôn luôn t́m thế đứng nhân dân Nam Việt Nam ủng hộ. Càng lúc dân chúng càng tin những tiếng đồn đăi ấy. Người ta c̣n x́ sầm với nhau muốn ông Nhu rời khỏi ông Diệm ra nước ngoài th́ chế độ mới giảm bớt sự nguy hiểm . Đó là vào thời gian sau vụ đảo chính hụt 11thang 11 năm 1960 do nhóm sĩ quan cấp tá, Nguyễn Chánh Thi, Vương Văn Đông, Nguyễn Triệu Hồng, Phan phụng Tiên... cùng một vài Đảng phái chủ xướng. Không riêng ǵ ông Ngô Đ́nh Nhu làm cái đinh cho dư luận xuyên tạc, bà Ngô đ́nh Nhu nhũ danh Trần Lệ Xuân cũng không tránh khỏi.

    Phong trào phụ nử liên đới do bà Nhu làm thủ lănh th́ được gọi là Phụ Nữ Liên Đái. Cô Ngô Đ́nh Lệ Thủy trưởng nữ của ông bà Nhu học ẹ mà đổ Tú Tài vào Trường Đại Học Y Khoa Sài gon rồi xuất ngoại. Chẳng qua cô Thủy theo mẹ gia nhập Thanh Nữ Cộng Ḥa, bắn súng giỏi. Ông Nguyễn Thiện Nhơn can đảm và tin tưởng cầm hai tay hai cái bong bóng cho Cô Thủy nhắm bắn. Cô Thủy là thiện xạ súng Carbine M1. Ông Nguyễn Thiện Nhơn về sau ,có một giai đoạn làm quân sư cho Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ. V́ chính trị dơ bẩn, lắm lúc dân chúng không chuẩn đoán được những tiếng đồn đăi xấu xa khởi từ Cộng Sản hay từ những chánh khách Xa-lông, xôi thịt . Thật là hỏa mù dày đặc về tiếng đồn không tốt cho hai chế độ Cộng Ḥa Nam Việt Nam mà số người vẫn tin có thật không phải là thiểu số, kể cả giới khoa bảng và đại khoa bảngtrên toàn cơi cả nước. Một tin đồn quá quắt cũng lắm người bàn tán bà Nhu dang díu với người nầy qua người khác như Đại Sứ Hoa kỳ Nolting, Tướng Trần Văn Đôn, dân biểu Giáo sư Hà Như Chi, thậm chí cả Tổng Thống Diệm.

    Hoàn toàn là những chuyện bịa đặt để đóng góp vào việc hạ bệ chế độ. Sau đảo chánh 1 tháng 11 năm 1963. đời sống xa quê hương, đầy tư cách của một góa phụ Ngô đ́nh Nhu là việc chứng minh cụ thể nhất cho những tin đồn vô đạo đức ấy, chẳng qua bôi bẩn v́ mưu đồ chính trị hoặc từ Cộng sản mà ra. Thêm một thủ đoạn bôi nhọ là qua ngày 3 tháng 11 năm 1963, sau đảo chánh chế độ Ngô đ́nh Diệm chỉ vài ngày, trên đường phố Sài g̣n người ta chuyền tay cho nhau xem h́nh bà Nhu lơa thể nhưng nghệ thuật ghép h́nh ấu trĩ nên những vụ tuyên truyền ác ư với bà Nhu từ đó phai nhạt. Hơn nữa chế độ đă cáo chung th́ sự tuyên truyền bôi nhọ cũng chuyển hướng, t́m mục tiêu mới. Và cũng trong những ngày ấy dư luận xấu c̣n thoi thóp đeo đuổi chế độ Ngô Đ́nh Diệm là những h́nh ảnh Play Boy được loan truyền là có rất nhiều ở trong dinh Gia Long. Những cuốn báo nầy của ông bà Ngô Đ́nh Nhu, Tổng Thống Diệm nhưng sự thật là của một số sĩ quan của Lữ Đoàn Liên Minh Phủ Tổng Thống. Bôi bác ngoài sự thật mà vẫn lắm người thích nghe là vậy.

    Tiếng đồn đăi phần lớn không được tốt là mục đích chính. Hết chuyện ở Trung ương th́ đến các tỉnh. Nào là các khu trù mật như Vị Thanh toàn trồng những cây giả tạo. Chương tŕnh khu trù mật loan ra là thất bại hoàn toàn. Khu trù mật Diêm Điền, Cái Sắn, Vị Thanh... mỗi khi Tổng Thống Diệm kinh lư ở đó th́ các ông Tỉnh Trưởng thôi thúc dân đem những cây ăn trái đă có quả, bứng từ vùng khác đem về trồng tạm để báo cáo với Tổng Thống là thành công lớn và dân t́nh nhờ đó mà an cư lạc nghiệp. Khi Tổng Thống ra về chỉ trong vài ngày là úa tàn chết ngắc. Tiếng đồn như thế mà cũng là tiếng đồn, lắm người truyền miệng cho nhau coi như chuyện thật và lạ lùng xẩy ra trong đời người. Họ truyền khẩu với nhau như chính ḿnh đă chứng kiến tại nơi, tại chốn. Tiếng đồn vang lên trong các đô thị, người kể thậm thà thậm thụt như chuyện bí mật quốc gia nếu có ai nghe thấy bị lănh án tử h́nh. V́ quan trọng hóa rồi thêm gia vị cho người nghe dễ bề tin tưởng có thật như đinh đóng cột.

    Về bên quân đội, có tin loan ra, ĐạiTá Lam Sơn chỉ huy một đơn vị ở Quảng Trị bạt tai viên cố vấn Mỹ v́ viên cố vấn nầy khám súng một quân nhân Việt Nam, súng dơ liền lấy ngón tay quẹt vào dầu lau súng bôi lên mặt quân nhân ấy nên Đại tá Lam Sơn tự ái dân tộc đánh viên cố vấn. Chuyện như thế làm sao xẩy ra được. V́ nó không có một cơ sở nào cả. Và cũng chuyện tát tai, tiếng đồn bà Nhu đánh ông Tướng nầy, ông Tướng nọ hay ông Tá kia, cứ thế thêu dệt như chuyện kiếm hiệp, Phong Thần. Nếu có một suy nghĩ nhỏ th́ chẳng bao giờ mắc mưu những tin đồn nhăm nhí ấy.

    Hôm nay ở hải ngoại nh́n lại 50 năm qua khi chế độ Ngô đ́nh Diệm c̣n tại vị hoặc vào thời điểm tháng11 năm 1963 bị sụp đổ chắc chắn thấy những vết ung nhọt trong khía cạnh tin đồn nhăm nhí để bôi nhọ một chế độ. Và biết đâu là sự thật th́ đă muộn nhưng có được một kinh nghiệm v́ đă trưởng thành nhận định. Đó là điều không phải là phí lăng nh́n lại một thời cuộc đi qua mà không bao giờ trở lại. Nó đa là lịch sử của một giai đoạn.

    Dưới thời Đệ Nhị Cộng Ḥa, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng không kém những lời đồn đăi, dị nghị phát xuất trong dân chúng mà nếu có suy nghĩ b́nh dị th́ chẳng biết xuất phát từ cội nguồn nào mà ra sự kiện.Những chuyện thuộc loại lắm mồm, lẻo mép, phao vu sự hiểu biết nhỏ nhặt hạ cấp như ông Hoàng Đức Nhả ra Đà Nẳng bạt tai ông Tướng Tư Lệnh vùng v́ ông nầy không nghiêm chào ông Cố Vấn, cháu Tổng Thống. Rùa kêu đá nổi cho kẹo ông Hoàng Dức Nhă cũng không dám chuyện ấy. Thế mà câu chuyện khôi hài nầy cứ chuyền miệng, nói như thiệt. Chuyện Tổng Thống Thiệu mê xướng nũ ngôn viên Vô tuyến truyền h́nh, nữ casĩ, đi câu cá Vũng Tầu để có dịp thăm bồ, hoặc t́ tẹo với vợ của ông Tướng nào có vợ đẹp rồi cho ông Tướng đó lên chức. Toàn là nói chuyện dởn chơi và thấy sự đời dễ như trở bàn tay để người ta tin tưởng. Suy nghĩ không đ̣i hỏi chín chắn th́ mẫu truyện đồn c̣n thua chuyện trẻ con nô đùa ngoài đường phố, thế mà lắm người tin cho được để mà làm quà câu chuyện với mục đích loan truyền, tự vổ ngực biết được những ǵ thâm cung bí sử.

    Phải công b́nh nói rằng những tin đồn xuyên tạc dưới thời Đệ Nhị Cộng Ḥa không nhiều bằng thời Đệ Nhất Cộng Ḥa. Những người bà con của Tổng Thống Thiệu như Ông Đại Sứ Nguyễn Văn Kiểu, Ông Bộ Trưởng Ngô Khắc Tĩnh không bị dựng chuyện nhiều như vợ chồng ông bà Ngô đ́nh Nhu, Đức cha Ngô đ́nh Thục và ông Ngô Đ́nh Cẩn thuộc gia đ́nh Tổng Thống Diệm. May chăng dưới chế độ Đệ Nhị Cộng Ḥa cái đinh để tạo dựng dư luận dân gian chỉ nhắm phần lớn vào ông Hoàng Đức Nhă mà thôi. Điểm đặc biệt về bà Thiệu dân chúng có nói đến nhưng rất hiếm hoi, ngoại trừ tiếng đồn đăi vụ c̣i hụ Long An. Vụ c̣i hụ Long An là môt nhóm từ ngữ nói về vụ buôn lậu thuốc ba số 5 và rượu Cognac Hennessy, được xe quân đội GMC chở từ miền Tây lên Sài g̣n trong giờ giới nghiêm. Vụ nầy tiếng đồn lang bang, không rơ ràng là cánh bà Thiệu chơi đậm cánh bà Khiêm ( Lúc nầy Tướng Khiêm giữ chức Thủ Tướng) để trả đũa vụ đồng đại bác Lai Khê. Vụ nầy cũng được liệt kê loại tin đồn vô căn cứ. Tin đồn th́ lúc nào cũng thổi phồng cho đến lúc ảnh hưởng đến chế dộ là mục đích sau cùng. Vụ nầy tiếng vang rất lớn, rất tai hại cho chính quyền Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu khi dính líu đến các phu nhân quyền uy đi buôn lậu. Bọn đầu cơ chính trị, bọn đối lập cuội, bọn ḥa giăi ḥa hợp cùng Việt Cộng, Việt gian nối tay dài chống chế độ nên được cơ hội loan truyền nhắm vào bà Thiệu.

  7. #7
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,775

      Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu: Công và Tội?
      

    Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu: Công và Tội?
    Ngô Đ́nh Diệm và Nguyễn Văn Thiệu - Ai hơn Ai ?
    Lê Tử Hùng



    Vụ c̣i hụ Long An là một giai thoại mà dân chúng coi là một vụ buôn lậu lớn nhất rồi bị ch́m xuồng dưới thời Đệ Nhị Cộng Ḥa T.T Nguyễn Văn Thiệu. Vụ nầy cũng coi tương đương, không kém ǵ vụ buôn gạo lậu miền Trung, nhân vật bị kết tội tù là ông Ung Bảo Toàn dưới thời Tổng Thống Ngô đ́nh Diệm. Vụ C̣i hụ Long An không hề có ai tù tội. Nhiều dư luận nói về vụ buôn lậu nầy nhưng mỗi tiếng đồn mỗi khác . Những tiếng đồn, tất nhiên phát xuất từ giới quân nhân là giới đáng tin cậy. Và có thể nói đủ các cấp đă nói ra về tin ấy mà nổi đ́nh nổi đám nhất là vùng Đô Thành Saigon - Gia Định thuộc Quân Khu Thủ Đô. Sự kiểm chứng tin tức không rơ ràng và chắc chắn. Nên trong ḷng dân tin rằng chuyện có thật mà vẫn ở trong hỏa mù, mơ hồ. Lư do từng cấp trong quân đội biết tin theo giới hạn.

    Báo chí cũng không loan tin rộng răi, chi tiết. Lư do vào thời gian ấy chế độ kiểm duyệt gắt gao dưới sự điều động của Tổng Ủy Dân Vận, một cơ quan ngang hàng cấp bộ và hiểu một cách rơ ràng hơn Tổng Ủy Dân Vân là hậu thân của Bộ Thông Tin như các chính quyền từ thời Tổng Thống Diệm, hay sau đảo chánh 1 tháng 11 năm 1963 của các chính phủ do quân đội thành lập. Tổng Ủy Dân Vận biến đổi danh xưng nhưng điều hành vẫn theo lối cũ của Bộ Thông Tin. Người đứng đầu Tổng cục Dân Vận là Ông Hoàng Đức Nhă cháu của Tổng Thống Thiệu. So với tuổi tác hồi bấy giờ, ông Nhă liệt vào hạng người tham chính rất trẻ. Báo chí bị kiểm duyệt như thế th́ dân chúng làm sao tận nghe, tận hiểu được vụ buôn lậu C̣i Hụ Long An dây mơ rễ má từ đâu mà có, từ đâu mà ra. Đó là chưa nói, thời Đệ Nhị Cộng Ḥa c̣n có luật lệ báo chí phải đóng 20 triệu tiền thế chân mới được xuất bản. C̣n trong thời Đệ Nhất Cộng Ḥa không có chế độ kiểm duyệt báo chí nhưng tự kềm chế cho chính ḿnh như là một chế độ kiểm duyệt vô h́nh dưới con mắt cú vọ của Sở Nghiên Cứu Xă Hội do bác sĩ Trần Kim tuyến cầm đầu và về sau nầy Đại Tá Phạm Thu Đường trông coi. Nhưng chỉ đạo là Ông cố vấn Ngô đ́nh Nhu. Chuyện Bác Sĩ Trần Kim Tuyến thất sủng cũng là một tiếng đồn đăi không kém phần quang trọng, sẽ nói sau để được đồng hành với những nhân vật thất sủng dưới thời Nguyễn Văn Thiệu.

    Trở lại vụ C̣i Hụ Long An, được dị nghị qua những nguồn tin, hai phu nhân nhất nước chơi nhau. Chơi ngầm. Chơi trả đũa về quyền lợi.Từ đó vô t́nh hay chủ ư, vụ buôn bán vỏ đạn đồng đại bác do bà Khiêm, phu nhân của Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm đứng ra cầm đầu.Vỏ đồng đai bác nguồn cung cấp từ căn cứ Lai Khê. Căn cứ quân đội Mỹ mà về sau là căn cứ của Sư Đoàn 5 Bộ Binh.Truyền khẩu là mỏ đồng ở đó nhưng chắc chán không ai thấy mặt ngang mặt dọc, kho đồng ở đó như thế nào! Mà c̣n nói v́ vụ đồng ấy mà Tướng Lịch, Đại Tá Hiếu phải ra ṭa án vùng 3 chiến thuật mới chết chứ! V́ đồng không có khi đạn đại bác của Mỹ viện trợ không c̣n làm bằng đồng mà một thứ kim loại khác. Bà Khiêm cho rằng ông Tướng, ông Tá lừa ḿnh nên bảo chồng t́m cách truy tố cho mấy ông nầy đi tù, giáng cấp. Tiếng đồn chuyện nọ xọ qua chuyện kia mà liên đới mắc xích làm cho câu chuyện càng có bảo đăm. Bà Thiệu chơi bà Khiêm vụ đồng đại bác th́ bà Khiêm chơi bà Thiệu về vụ C̣i hụ Long an.

    Những người kể, nếu có chuyện thật th́ cũng tam sao thất bản và câu truyện chẳng ai biết nó xuất phát ở ngơ ngách nào, nhân vật nào x́ ra, ở Phủ Tổng thống hay Phủ Thủ Tướng!? nhưng nghe là cứ nghe và sẳn sàng kể lại cho người quen biết bất cứ ở chổ nào, bất cứ trường hợp nào nếu cảm thấy thuận tiện ngồi, đứng, nhỡn nhơ nói chuyện chính trị đất nước. Bất cứ người nào truyền khẩu tin đồn đều như chứng nhân là ḿnh. Nếu có người bắt bẻ th́ bảo rằng có người bạn, người thân hoặc người nào đó ở trong hai cái phủ quyền uy kể lại. Rồi cứ thế, thao thao bất tuyệt không nghĩ đến hậu quả tai hại mà chỉ muốn người khác cho ḿnh là người biết quá nhiều th́ khoái chí hănh diện.

    Vụ c̣i hụ Long An là một vụ bắt bớ t́nh cờ. Một tai nạn không mấy ai lường được nếu ai là kẻ chủ mưu trong vụ buôn lậu ấy. Vụ bắt bớ hiện trường tại cầu Long An. Một chiếc cầu quan trọng bậc hai sau cầu Bến Lức, Bắc Mỹ Thuận cửa ngơ vào Đô Thành Saigon từ miền Tây và ngược lai. Tai nạn buôn lậu nầy nằm trong lănh địa tỉnh Long An mà ông Tỉnh Trưởng tỉnh nầy là Đại Tá Lê Văn Năm bào đệ của ông Đại tá Tỉnh Trưởng Gia Định Lê văn Tư ( lúc nầy chưa lên Tướng). Nói về tin đồn đăi, lúc nào cũng tin tức dưới dạng nầy cả, một đoàn xe mười bánh GMC nhà binh, có mui vải bịt kín từ miền Tây nối đuôi nhau chạy lên Saigon. Xuất phát từ tỉnh nào không nghe nói rơ mà chỉ nhấn mạnh về việc xe nhà binh buôn lậu. Lúc đầu là các ông lớn chủ mưu. Càng lúc về sau nói rằng các bà lớn chủ mưu. Một đoàn xe buôn lậu chạy công khai giữa ban ngày th́ trước nhất có tổ chúc với nhiều ông tai to mặt lớn mới lên đến cửa ngơ Thủ Đô. Đoàn xe đi luôn trong giờ giới nghiêm nhưng đến cầu Long An th́ tắt nghẻn ở đó...

    Vụ tai nạn bất thần, khi không mà xẩy ra để cho đoàn bị bắt, nguyên nhân chỉ v́ anh lính Địa Phương Quân gác cầu Long An trong giờ giới nghiêm đă xuất sắc thi hành máy móc lệnh cấp trên. Nghĩa là trong giờ giới nghiêm nội bất xuất, ngoại bất nhập trên cầu Long An dù có giấy tờ của ông trời cũng không cho qua cầu. Ngoại trừ khi có lệnh trực tiếp của Tiểu Khu Tỉnh Long An th́ may ra mới có phép vượt cầu Long An để vào lănh địa Quân Khu Thủ Đô. Chỉ huy đoàn xe chờ đầy thuốc lá ba số 5 và rượu Hennessy nước đục, mờ, đỏ và nắp đủ mầu để phân biệ thứ rượu ngon, rượu vừa mà thị trường của các chủ Bar, nhà hàng đ̣i hỏi là một sĩ quan cấp Tá. Tin loan ra ngoài không nói rỏ sĩ quan cấp tá đó thuộc đơn vị nào nhưng ông ta không khuất phục được anh lính Địa Phương Quân gác cấu Long An trong giờ giới nghiêm. Dân chúng cũng vừa nghi vừa ngờ ông Đại Tá Tỉnh Trưởng Long An có dính líu vào vụ buôn lậu nầy. Nhưng có tin đồn nế ông Tỉnh Trưỡng Long An có dính líu th́ đoàn xe đă trót lọt rồi. V́ sau đó không bao lâu ông Tỉnh Trưởng bị đổi đi đơn vị khác. Bây giờ ở hải ngoại có Tướng Lê Văn Tư là Anh ruột của Đại Tá Lê Văn Năm may ra ông biết rơ vụ buôn lậu c̣i hụ Long An.Nếu ông biết, ông có thể góp vài chi tiết trong loạt bài nầy mà không ngần ngại giăi tỏa một tiếng đồn, một dư luận của ngày xưa cũ...

    Phần 2
    Nói về vụ đồng đại bác Lai Khê, một căn cứ của quân đội đồng minh Hoa kỳ bàn giao cho quân Đoàn 3 mà Sư đoàn 5 Bộ Binh tọa cứ ở đó cho đến ngày Miền Nam sup đổ. Trong cuộc chiến Việt Nam, khi có cuôc đổ bộ của quân đội đồng minh lên băi biển Mỹ Khê Đà Nẳng th́ những viên đại bác bắn đi, vỏ đạn đồng để lại. Chiến tranh càng lúc càng leo thang th́ vỏ đạn đồng càng lúc càng tăng. Và trở thành kho tàng, mỏ đồng. Người Trung Hoa ở các vùng có đạn đồng đề mua hết để bán cho mại bản Trung Hoa trong Chợ Lớn. Ngay những tiệm bán sắt vụn cũng c̣n thu mua đồng nát. Đây là nghề duy nhất mà người Tầu Chợ lớn buôn đồng nát. Có những người Tầu quảy gánh đi suốt ngày trong hang cùng ngơ hẽm mua giấy vụn, nylon, dép nhựa, sắt và đồng nát về bán lại cho những tiệm bán sắt. Kể dụng cụ máy móc hư hại để về sửa chữa, tu bổ lại thành mới hoặc lấy đồ phụ tùng. Nghe đâu, người mua đồng nát danh tiếng trở thành tỉ phú là Chú Hơa. Nói như thế th́ hiểu rằng những b́ đạn đại bác bằng đồng th́ bán được giá biết chừng nào. Đồng đạn đại bác lại cả kho ở trong trại pháo binh th́ đó là tiền của lớn v́ hàng tấn đạn dược của loại đạn nầy, sau khi bắn đi để lại vơ đồng, cứ bán cho người Trung Hoa bằng kư lô th́ tiền bạc biết bao nhiêu mà kể sau khi thu lượm khắp bốn vùng chiến thuật.

    Vào thời đó có tin nói rằng, ở đâu có đạn pháo binh là x́ thẩu người Hoa liên lạc với ông lớn, bà lớn thu mua. Những vụ buôn bán đồng ở nhiều căn cứ, có thể được chia chác kín đáo nên công việc buôn bán nầy không mấy ai chú ư. Hơn nữa vỏ đạn đồng dưới cái nh́n khách quan là đồ phế thăi quân đội không đáng kể nhưng thật ra vô cùng đang kể. Cho đến khi vụ vỏ đạn đồng Lai Khê x́ ra th́ người dân nghe tiếng bà lớn đă nhúng tay vào để kinh tài cá nhân v́ số vỏ đạn đồng ở đây khi quân đội Mỹ rút đi để lại hằng hà sa số và được chôn dưới đất sâu, chỉ quật lên là được hàng chục tấn.

    Mỏ đồng Lai Khê được gán cho bà Khiêm sở hữu chủ. Bà đă ra lệnh cho ông Tướng chỉ huy sư đoàn nầy khai thác bán cho mấy ông Tầu ở Chợ Lớn. Mấy ông Tầu đă chồng tiền bạc triệu cho bà. Tất nhiên mấy ông Tướng Tá ở sư đoàn nầy cũng có bỗng lộc. Giới quân nhân c̣n đồn rằng trước khi quân đội Hoa Kỳ bàn giao, họ c̣n chỉ chổ chôn dấu vỏ đạn đồng. Họa đồ chôn dấu vỏ đạn đồng dưới đất sâu được giao cho ông Tướng chỉ huy. Và chỉ đợi ngày quật lên, xe nhà binh chở về Chợ lớn giao hàng, hoàn tất nhiệm vụ cho bà lớn, Tướng chỉ huy sư đoàn có phần chia chác. Tưởng thế là xong vụ vỏ đạn đồng nhưng bất thần ông Tướng và mấy ông Đại Tá bị truy tố ra ṭa án binh, tiếng đồn lại vang dậy v́ mấy ông nầy liên đới đến vụ vỏ đạn đồng nên bị mất lon, xuống chức rồi đua nhau cho giăi ngũ, sau một thời gian đă ăn cơm vắt cất vào hộp Chí Ḥa.

    Chuyện được tô bồi là bà Thiệu chơi bà Khiêm v́ trật con cá lớn vỏ đạn đồng đại bác. Ngoài ra c̣n thêm gia vị cho lắm người thưởng thức thêm phần hữu lư là quân đội Mỹ gạt gẫm ông Tướng chỉ huy và bộ tham mưu của ông ta về những hầm vỏ đồng đại bác chôn dấu dưới đất. Những hầm ấy có vỏ đại bác thật nhưng không phải kim khí bằng đồng mà một thứ kim loại pha trộn, hổn hợp nhôm và ch́ v́ chiến tranh càng ngày càng lên cao Hoa Kỳ chỉ sản xuất vỏ đạn loại kim khí đo,Ô bớt tốn kém hơn đồng. Lư do nầy, bà Khiêm nghĩ rằng ông Tướng tráo trở làm cho thương gia người Tầu Chợ Lớn phao lên rằng bà ấy gạt. Bà Khiêm tức giận bị phỏng tay trên nên đă kiếm cách triệt hạ ông Tướng và vài ông Đại tá ở sư đoàn nói trên. Trong lúc bà Thiệu đinh ninh bà Khiêm trúng vụ đồng cả bạc triệu. Bà Thiệu thấy bà Khiêm làm tiền như nước nên bà nhúng tay vào vụ buôn thuốc lá ba số 5 và rượu Hennessy cho đồng cân đồng lượng. Bà Khiêm th́ nghĩ bà Thiệu chơi ḿnh vụ đồng. Chỉ có bà Thiệu mới đủ khả năng ra lệnh cho Tướng Tá sư đoàn báo cáo với bà Khiêm là vỏ đạn đồng không phải là đồng. Bà Thiệu trúng lớn vụ đồng, tiền vào túi một cách ngon lành không đổ một giọt mồ hôi, một dăi nước bọt. Bà Khiêm đợi cơ hội trả đũa và bà đă trả đũa được bà Thiệu trong vụ buôn lậu miền Tây mà báo chí gọi là vụ c̣i hụ Long An.

    Trở về với thời Đệ Nhất Cộng Ḥa, vào đầu mấy năm sơ khai của chế độ, xẩy ra vụ buôn gạo hàng trăm ngàn tấn gạo, vận chuyển ra miền Trung mà tiếng đồn là gạo bán cho Việt Cộng. Nhà doanh thương bị bắt được nói nhiều nhất, coi như thủ phạm, ông Ung BảoToàn. Những cơ quan bắt được và gán tội là công an, mật vụ và văn pḥng ông cố vấn Chỉ Đạo Miền Trung, ông Ngô đ́nh Cẩn, thường được gọi một cách kính trọng, Cậu Cẩn. Và thĩnh thoảng có người gọi ông là Cậu Út Trầu v́ ông nhai trầu cau bỏm bẻm suốt ngày. Không biết v́ đâu mà ra, khi người coi ông Ngô đ́nh Cẩn là con út của ông bà Ngô Đ́nh Khả và cũng là em út của Đức cha Ngô Đ́nh Thục, Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, ông cố vấn Ngô Đ́nh Nhu và Ông Đại Sứ Anh Quốc Ngô Đ́nh Luyện. Thật ra ông Ngô đ́nh Luyện mới là con út và em út của gia đ́nh quan lại Ngô Đ́nh. Vai vế bị đảo lộn như vậy mà đến ngày nay cũng chẳng ai biết lư do, nguyên nhân nào như vậy. Và lắm người ở cố đô Huế biết được điều nầy mà chẳng ai nói ra. Cậu Cẩn bắt được vụ gạo lậu nầy với tiếng đồn là tranh chấp thị trường gạo miền Trung chứ chẳng ai dám chở gạo khơi khơi từ Sài g̣n ra miền Trung bán cho Việt Cộng. Dư luận ấy vội tắt v́ vào quảng thời gian ấy dân cố đô Huế một mực ủng hô Tổng Thống ngô Đ́nh Diệm. Tiếng đồn đăi ấy trở thành chính đáng song song với chiến dịch tố Cộng được chính phủ đề ra như quốc sách . Thế là ông Ung bảo Toàn ra ṭa và đi tù . Măi mấy năm sau mới được thả tự do.

    Sau vụ gạo lậu miền Trung là vụ thương gia Nguyễn văn Yến và nhà thầu khoán Nguyễn Thành Phương. Hai nhân vật được coi là giàu có và có máu mặt ở cố đô Huế. Ông Nguyễn văn Yến, chủ nhân một cơ sở bất động sản có tên khách sạn Morin. Đây là một khu thương xá gồm có nhà hàng, khách sạn, rạp chiếu bóng, cửa hàng tạp hóa... của người Pháp sau khi rời Việt Nam theo hiệp định Genève bán lại cho ông Nguyễn văn Yến mà trước đó ông đă có cổ phần. Cơ sở nầy về sau là Viện Đại Học Huế. Viện trưởng đầu tiên, Linh mục Cao văn Luận.

    Vụ ông Nguyễn văn Yến bị công an, mật vụ bắt nhốt, tiếng đồn vang dội thành phố Huế. Người th́ nói, ông Yến thân Tây. Cơ ngơi của ông có được là làm tay sai cho thực dân Pháp và có dính đến Pḥng Nh́ ( 2ème Bureau) mật thám của Tây cài người ở lại. Chế độ đang bài Phong, đả Thực, tố Cộng (dẹp vua quan - đuổi thực dân - diệt Cộng sản), ông Nguyễn văn Yến bị bắt là do thực dân Pháp cài người ở lại làm gián điệp. Thế là ông Nguyễn văn Yến đi tù ở nhà lao Thừa Phũ tỉnh Thừa Thiên nằm bên hữu ngạn ḍng sông Hương đối diện với Phu văn Lâu nội thành cố đô, tả ngạn thành phố Huế. Nguồn dư luận khác được xầm x́ trong dân chúng cố đô, lư do ông Nguyễn Văn Yến bị tù, tịch biên tài sản do chính trị mà ra không chính xác. Nguyên nhân của nó là việc ông Ngô đ́nh Cẩn và bà Cả Lễ muốn mua lại khách sạn Morin với giá cả thấp, ông Nguyễn Văn Yến không chịu nên ông bị lấy cớ làm gián điệp cho Tây, giam tù ông ấy và tịch thu tài sản.

    Tất cả cũng đều nằm trong tiếng đồn không lấy đâu là chính xác tuyệt đối. May ra có gia đ́nh ông Nguyễn văn Yến mới hiểu rơ nguồn cơn. Nhưng vào thời kỳ ấy không nghe tiếng phản bác của gia đ́nh ông Yến. Măi cho đến sau ngày đảo chánh 1 tháng 11 năm 1963, gia đ́nh ông Yến làm đơn khiếu nại với chính mới yêu cầu trả lại những bất động sản như khách sạn Morin v́ họ bị hàm oan. Nhưng sự đ̣i lại ấy hầu như không được làm sáng tỏ v́ khách sạn Morin vẫn là viện Dại Học Huế cho đến ngày Nam Vuệt Nam sụp đổ. Và không nghe nói chính quyền mới có bồi thường không hay vẫn giữ nguyên án của chế độ cũ đă xử ông Yến.

    Vụ ông Nguyễn Thành Phương nhà thầu khoán ở thành phố Huế ai cũng biết tên. Ông Nguyễn Thành Phương nổi tiếng giàu có. Dư luận tung ra ngoài khi ông Phương bị bắt là v́ ông tranh chấp đấu thầu với Bà Cả Lễ. Bà Cả Lễ thuộc gia đ́nh Ngô Đ́nh đă giàu có từ lâu. Bà Cả Lễ tức là bà mẹ vợ của ông Bộ Trưởng Phụ Tá Quốc Pḥng, ông Trần Trung Dung. Bà là chị của Tổng Thống Diệm. V́ thế bà Trần Trung Dung gọi Tổng Thống Diệm bằng cậu. Vụ ông Dung cưới con gái bà Cả Lễ, cháu Tổng Thống cũng bị xuyên tạc không phải là ít và có ảnh hưởng rất nhiều đến chế độ về mặt tuyên truyền địch vận về gia đ́nh trị. Về sau ông Nguyễn Đ́nh Thuần thay thế ông Trần Trung Dung giữ chức Bộ Trưởng Phụ Tá Quốc Pḥng th́ tiếng đồn ấy mới xao lăng. Chuyện loan tin thất thiệt về bà Cả Lễ cũng nhiều, sẽ nói về sau.

    Ông Nguyễn Thành Phương bị Nha Công An Trung Nguyên Trung Phần bắt giữ nhưng lại có tin là ông Phương bị cơ quan mật vụ đặc biệt giam. Rồi cả thành phố Huế được tin ông Phương chết đột ngột. Ông ấy chết v́ bị hàm oan nên nhảy lầu tự tử tại tư gia khi được thả về. Câu chuyện ông Phương tự tự loan truyền nhanh chóng trong thành phố Huế. Và chỉ trong mấy ngày sau dư luận truyền khẩu lan rộng là ông Phương bị tra tấn đến chết rồi mật vụ đưa ông về nhà, ném xuống lầu rồi loan truyền ông ấy tự tử. Thật hư chẳng biết ra thế nào nhưng những tiếng đồn ấy vô cùng nguy hiểm và tai tiếng cho ngành mật vụ và công An ở miền Trung vào dạo ấy mà cứ tuyên truyền đầu mơ rễ má là ở ông Ngô đ́nh Cẩn và bà Cả Lễ mà không có một cơ sở nào làm bằng chứng. Trong khi đó gia đ́nh nạn nhân vẫn im hơi lặng tiếng.

    Ngang đây cũng nói rơ lại một lần nữa, loạt bài nầy nói những tiếng đồn đăi trong dân chúng. Tiếng đồn th́ không biết xuất phát từ đâu, là địch, là giới bất măn nhưng loan truyền lại là dân chúng. V́ thế đâu là sự thật. Phần lớn là động cơ phá hoại chế độ. Nhưng điều phiền muộn là từ trong dân. Dân nh́n chính quyền. V́ thế loạt bài nầy không nên hiểu lầm khi đọc cứ cho những ǵ trong dân là sự thật như những hồi kư của các viên chức quyền cao chức trọng, chứng nhân của lịch sử. Dân đồn đăi, từ đâu mà có . Từ đâu mà dệt thành câu chuyện th́ cứ diễn tả tiếng đồn một giai đoạn mà tiếng đồn xấu, không bao giờ tốt th́ biết ngay những mẫu truyện đó phát xuất từ đâu, bàn ra cũng là điều vô bổ thêm. Chỉ biết rằng tiếng đồn là một phương cách chính trị tuyên truyền phá rối trật tự và bôi bác chế độ.

    Bây giờ trở về với giai đoạn Đệ Nhị Cộng Ḥa với chính quyền Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Ông Thiệu ai cũng thừa biết một Tướng Lănh trở thành Tổng Thống. Tổng Thống dân cử nhiệm kỳ đầu và cả nhiệm kỳ hai nhưng nhiệm kỳ hai được gọi là độc diễn. V́ không có liên danh nào ra tranh cử do luật bầu cử đ̣i mỗi liên danh hội đủ 300 chữ kư của Thượng nghị sĩ, dân biểu hoặc hội viên hội đồng tỉnh khắp toàn quốc. Luật chưa ra ông Thiệu đă lấy hết chữ kư đến độ thặng dư. Một Thượng nghị sĩ, Dân biểu, Hội đồng tỉnh không được phép cho chữ kư hai liên danh . V́ thế các liên danh khác không thể đủ túc số chữ kư ấn định. Ngay cả Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ bỏ ông Thiệu để ra một liên danh riêng rẽ cũng đành bó tay. Việc đồn đăi ông Kỳ chống ông Thiệu với chiêu bài Tam bất sẽ nói sau. Luật bầu cử loan truyền trong dân chúng do ông Thiệu làm ra.

    Phần 3
    Tổng Thống ứng cử chức Tổng Thống kỳ hai vô cùng xôn xao v́ luật bầu cử vớ mấy trăm chữ kư Thượng Nghi sĩ, Dân biểu, Hội đồng tỉnh. Dân chúng lúc bấy được nghe tin Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ không đứng chung với ông Thiệu nữa . T́nh trạng vậy th́ quân đội sẽ phân tán làm hai, ông Kỳ lẫn ông Thiệu chưa chắc đă trúng cửa, nếu có liên danh thứ ba là trai c̣ cắn nhau ngư ông thủ lợi. Tiếng đồn lại tung ra khắp nẻo đường Đô Thành, sức mấy mà ông Thiệu không trúng cử v́ ông có cái bùa chữ kư. Cái bùa nầy loại ông Kỳ ra ngoài, quân đội chỉ bỏ phiếu cho ông Thiệu mà thôi. Hai nhân vật quân đội Thiệu - Kỳ vẫn là hai nhân vật nổi tiếng, được nói đến trước mùa bầu cử, trong mùa bầu cử và sau mùa bầu cử vào lúc bấy giờ. Có một vài liên danh chánh khách nổi tiếng nhưng tuần tự rút lui với nhiều lư do. Lư do trước tiên là không hội đủ chữ kư. Lư do thứ hai, sợ gian lận đầu phiếu mà trường hợp nầy không thể loại trừ. Trường hợp thứ ba, mưu sĩ chính trị là để cho ông Thiệu mang tiếng độc diễn mang tiếng muôn đời. V́ vậy dân chúng cùng quân đội chỉ bàn vào, tánn ra, liên danh ôngThiệu với cựu Đô Trưởng, cựu Thủ Tướng, cụ Trần văn Hương đứng Phó. C̣n liên danh ông Kỳ có cựu Thủ Tướng Luật sư Nguyễn Văn Lộc đứng phó. Hai liên danh nầy giằng co nhau rất nhiều thời gian cùng tiếng đồn của dân chúng là kẻ chín cân người một lạng, chưa biết mèo nằm cắn miễu nào!.
    Lúc bấy giờ người dân Sài G̣n chứng kiến cảnh tượng ông Kỳ đi nạp đơn ứng cử với một đoàn xe tùy tùng, súng ngắn súng dài, hộ tống rềnh ràng đường phố. Thời gian nầy ông Kỳ hầu như không c̣n đoái hoài cái văn pḥng của ông nằm bên cánh trái dinh Độc Lập nữa. Ông đă lùi về căn nhà vốn ông trú ngụ lâu năm trong căn cứ sân bay Tân Sơn Nhất. Trở về chốn cũ của ông Kỳ là một thái độ, một hành động cố thủ chống lại ông Thiệu công khai. V́ thế trong một cuộc họp báo với các nhà báo trong nước, có báo hỏi ông có c̣n đứng chung liên danh với ông Thiệu trong cuộc bầu cử Tổng Thống nầy nữa không? Ông Kỳ đáp không suy nghĩ, tôi không xách dép cho ai lần thứ hai. Câu trả lời hàm ư, không bao giờ làm Phó cho ông Thiệu đồng thời như một lời nhắn đến tai ông Thiệu. Sự tách rời hai nhân vật Tướng Lănh trong vụ bầu cử Tổng Thống kỳ hai, toàn dân và quân cán chánh đều thấy rơ điều đó. Nhưng thế lực của ông Thiệu chắc chắn ông Kỳ không đè bẹp được. V́ thế có tin đồn đảo chánh từ ngày này sang ngày nọ, liên hồi cho đến ngày bầu cử mà chẳng có đảo chánh xẩy ra. Lư do thường được bàn tán, có lẽ Hoa Kỳ chưa cho phép. Hoa Kỳ không bật đè bao xanh.

    Ông Kỳ nộp đơn ứng cử không được Hội Đồng Tổ Chức Bầu Cử nhận đơn v́ hồ sơ ứng cử coi như không hợp lệ khi luật ứng cử phải hội đủ chữ kư của các vị dân cử. Liên danh ông Kỳ bất chấp luật lệ đă định, cương quyết đ̣i nộp đơn cho được và hầu như dùng uy lực phô diễn một đoàn cận vệ đông đảo như toan hành động. Bề ngoài như thế nhưng rồi đâu vào đấy, ông Kỳ và đoàn cận vệ đành lui bước trở về mang theo hồ sơ ứng cử Tổng Thống nhiệm kỳ hai. Dân chúng thấy được uy lực của ông Thiệu qua lần đi nộp đơn ứng cử thất bại của ông Kỳ. Lúc bấy giờ người ta hồi tưởng lại không mấy xa xôi, vào vài năm trước khi ông Kỳ giữ chức Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương (Thủ Tướng). Thời gian huy hoàng nhất của ông Kỳ khi nắm trong tay tất cả quyền bính. Quảng thời gian ấy, ông Thiệu giữ chức Chủ Tịch Ủy Ban Lănh Đạo Quốc Gia, một chức vụ tiêu biểu đứng đầu một nước của thời thế quân đội cầm quyền mà làm v́, nghi lễ mà thôi.
    Chế độ quân nhân không thể kéo dài theo sự đ̣i hỏi của các đảng phái, dân chúng về thể chế dân chủ, chế độ quân nhân không kéo dài sẽ sẽ trở thành quân phiệt và độc tài. Và ngay cả những quốc gia có ngoại giao với Nam Việt Nam cũng đ̣i hỏi như thế th́ mới có viện trợ, mới có bang giao khi Nam Việt Nam không những thành lập chính phủ dân sự mà cả dân cử tự do, đầu phiếu người lănh đạo. V́ thế mới có cuộc bầu cử Tổng Thống theo thể thức phổ thông đầu phiếu. Khi có cuộc bầu cử Tổng Thống nhiệm kỳ nhất, tiếng đồn ông Kỳ sẽ đứng đầu một liên danh. Tất nhiên ông Thiệu cũng ra một liên danh. Phần thắng sẽ về tay ông Kỳ là điều ai cũng suy nghĩ như vậy đối với tính thế ,hoàn cảnh của Nam Việt Nam lúc bấy giờ. V́ ông Kỳ là Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương ( Thủ Tướng), có một nội các với hàng tá ủy viên ( Bộ Trưởng) nắm giữ các Bộ. Nội các của ông Kỳ rềnh rang lắm. Tất cả các Ủy Viên đều mặc quấn áo đồng phục mầu kaki xanh nước biển. Lúc đầu nội các nầy xưng danh là Nội Các Chiến Tranh, diều hâu vang cả cơi Nam Việt Nam rồi lan tràn qua Mỹ và khắp thế giới do báo ngoại quốc đưa tin. Nhưng rồi không biết v́ lư do nào, chỉ mấy tháng sau, nội các nầy cải danh là nội các của dân nghèo. Dù rằng cuộc chiến mỗi ngày mỗi lên thang.

    Một màn ngoạn mục do chính phủ nầy quốc hữu hóa giới xe Taxi đang hoạt động trong Đô Thành Sài G̣n, Chợ Lớn, Gia Định. Mỗi tài xế Taxi được mua xe trả góp để hành nghề. Thế là một loạt xe Taxi mới toanh được chính phủ bán ra. Xe mầu xanh đậm mầu nước biển. Hai bên hông xe có kẻ những hàng chữ Taxi quốc hữu hóa. Song song với đề án nầy, chính phủ lập phong trào Thanh Niên Trừ Gian. Gian ở đây là gian thương. Thanh Niên Trừ Gian được quyền rộng răi như bất chợt khám nhà tư nhân không cần qua lệnh Án Ṭa. Mục đích là truy lùng những gian thương đầu cơ tích trữ. V́ thế trong thời gian nầy có vụ án Tạ Vinh, người Hoa Kiều Chợ Lớn bị kết tội, đưa ra pháp trường cát, tại bùng binh chợ Bến Thành. Chủ tịch Thanh Niên Trừ Gian là ông Đỗ Diễn Nhi, em trai người t́nh của Ngài Thủ Tướng. Người t́nh đó là vũ phủ H.L.
    Tất cả mọi chuyện về Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương không ăn nhập ǵ đến ông Thiệu với nền Đệ Nhị Cộng Ḥa v́ lúc ấy ông Thiệu, Trung Tướng Chủ Tịch Ủy Ban Lănh Đạo Quốc Gia. Nghe th́ cao ngất nhưng quyền hành ở trong tay Ông Thiếu Tướng Không Quân Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương. Lư do nhắc lại giai đoạn nầy v́ ông Kỳ chuẩn bị ra ứng cử Tổng Thống nhiệm kỳ nhất. Và ông Thiệu cũng một ḷng chiếm cho kỳ được chiếc ghế Tổng Thống. Sự nứt rạn giữa ông Thiệu và ông Kỳ có từ đó chứ không phải măi đến kỳ bầu cử Tổng Thống nhiệm kỳ hai.

    Nguồn tin loan truyền khi sự việc cuối cùng xẩy ra của cuộc bầu cử Tổng Thống kỳ đầu là liên danh Thiệu - Kỳ, nghĩa là hai ông Tướng xung đột lúa nấm ngầm lúc công khai đă ngồi lại với nhau để đối phó với những liên danh dân sự của các chánh khách và đảng phái nếu họ ra tranh cử. Hai nhân vật dân sự đáng được dân chúng chú ư là cụ Phan Khắc Sửu và cụ Trần Văn Hương. Có tin thả bong bóng là Sửu - Hương đứng một liên danh và cũng có tin loan truyền Mỗi ông lập một liên danh riêng rẽ. Tin tức về các liên danh dân sự như tung hỏa mù. Lại có tin luật sư Phan Huy Quát lập liên danh và cả Luật sư Trần văn Tuyên cũng có liên danh ra tranh nữa. Nhưng rồi tất cả đều rút lui. Chỉ c̣n liên danh Trần Văn Hương.

    Lê Tử Hùng

  8. #8
    Join Date
    13-02-2011
    Posts
    25

      TT NVT va CAI CACH RUONG DAT
      

    Ông Nguyễn Văn Thiệu có rất nhiều tội với nhân dân miền Nam. Nhưng ông cũng có một công lớn với nông dân nghèo, tá diền, dó là chính sách người cày có ruộng ban hành ngày 26 tháng 3. Đem đất cho người dân cày trực tiếp, truất hữu hàng ngàn địa chủ và bôi thường thoả đáng. Trong dó có gia đ́nh ông ngoại tôi. Nhưng đa số các địa chủ không thấy giận dữ và phản đối.
    Chính sách này tương phản với chính sách CƯỚP ĐẤT ĐAI của bọn CS để làm giàu cho bọn cán bộ, tư bản đỏ và đẩy dân vào chỗ bần cùng.
    Đó là khác biệt của VNCH và CHXHCNVN.

  9. #9
    Join Date
    11-08-2010
    Location
    Texas
    Posts
    1,087
    Khi xét đoán về công tội của các vị lănh đạo quốc gia, cần nghiên cứu bối cảnh lịch sử, các hạn chế về khách quan và chủ quan trong từng giai đoạn.
    Quốc Gia Việt Nam ra đời sau hàng trăm năm Quân Chủ chuyên chế và Thực dân đô hộ. Dân sinh nghèo đói, dân trí thấp kém, lạc hậu. Tầng lớp lănh đạo dù theo tây học th́ vẫn c̣n mang nặng ảnh hưởng tŕ trệ cổ xưa.
    VNCH lại c̣n bị nạn chiến tranh do Cộng Sản quấy phá và xâm lăng trong hơn 20 năm. Những thành quả chính trị và kinh tế mà TT Diệm đạt được, phải nói là rất lạc quan (dù c̣n nhiều bất công, thiếu dân chủ…). Tổng Thống Thiệu cũng chẳng được rộng tay hơn. Thù trong, giặc ngoài, áp lực đồng minh như thế, th́ có tài giỏi đến đâu cũng khó xoay sở. TT Thiệu cũng có nhiều sai phạm rất nghiêm trọng, nhưng nh́n chung, th́ ông là người có khả năng và bản lănh. Chỉ v́ tính sai nước cờ khi rút quân ở miền Trung mà gây ra thảm họa mất nước. ó là tội nặng nhất của TT Thiệu.

    Nhưng trong mùa Quốc Hận 30-4, liệu có phải là thời điểm thuận lợi để chúng ta ngồi phê phán công tội của các ông ấy?
    Last edited by TuDochoVietNam; 28-04-2012 at 03:57 AM.

  10. #10
    Join Date
    14-11-2010
    Posts
    524
    Tôi đồng ư với ông TƯDOCHOVIETNAM , trong mùa Quốc Hận 30-4 không phải là thời điểm thuận lợi để bàn về công tội các ông ấy .
    Tiện đây xin nói thêm cho bạn PTDNB rằng trong chính sách người cày có ruộng thời TT. NVT , các địa chủ bị truất hửu không bất mản là v́ họ được bồi thường xứng đáng , đầu tiên họ được trả một số tiền lớn sau đó 10 công khố phiếu được lảnh hàng năm .
    Hơn nửa tiền bồi thường cao hơn thời giá v́ phần lớn do an ninh nên ruộng bán không được và tá điền lợi dụng t́nh thế không đóng địa tô , có nơi từ khi 1945 , v́ vậy tiền bồi thường giống như tiền đả mất t́m lại được .

+ Reply to Thread

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

     

Similar Threads

  1. Replies: 18
    Last Post: 15-09-2011, 03:27 PM
  2. Replies: 0
    Last Post: 28-07-2011, 12:19 AM
  3. Replies: 9
    Last Post: 08-04-2011, 04:20 PM
  4. Phu nhân tổng thống VNCH -Nguyễn văn Thiệu
    By dangcongsan in forum Tin cộng đồng
    Replies: 47
    Last Post: 14-01-2011, 06:46 AM
  5. Replies: 2
    Last Post: 27-10-2010, 03:19 AM

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts