+ Reply to Thread
Page 2 of 11 FirstFirst 1 2 3 4 5 6 ... LastLast
Results 8 to 14 of 77

Thread: TƯỞNG NIỆM VINH DANH NGÀY QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ 19.6 : CHIẾN ĐẤU ĐẾN CÙNG

  1. #8
    Join Date
    30-08-2010
    Posts
    2,898

      SÀI G̉N GIỜ THỨ 25
      


















    QUÂN HIỆU KỲ QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ














    Về Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III, tôi liền họp các Lữ Đoàn Trưởng, Liên Đoàn Trưởng, Chiến Đoàn Trưởng và các Đơn Vị Yểm Trợ. Tiểu Khu Trưởng và Tiểu Khu Phó Biên Ḥa đă bỏ trốn từ mấy ngày trước. Trước hết, tôi ban hành lệnh thiết quân luật ở Biên Ḥa kể từ 15 giờ 00 ngày 29-4-75, chỉ thị cho các đơn vị Địa Phương Quân và Nghĩa Quân chung quanh thị xă Biên Ḥa bố trí tại chỗ, ở đâu ở đó, không được rời vị trí, không được di chuyển. Cảnh sát Biên Ḥa chịu trách nhiệm an ninh bên trong thành phố. Triệt để thi hành nguyên tắc nội bất xuất, ngoại bất nhập. Để pḥng thủ bảo vệ thành phố Biên Ḥa, tôi phối trí Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III như sau:

    - Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù: Bố trí trong khu phi trường Biên Ḥa, giữ mặt Bắc BTL/Quân Đoàn III.

    - Lữ Đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến: 1 Tiểu Đoàn bảo vệ BTL/Quân Đoàn III, Lữ Đoàn(-1 Tiểu Đoàn) bố trí pḥng thủ mặt Nam BTL/Quân Đoàn III.

    - Lữ Đoàn 4 Nhảy Dù (-1 Tiểu Đoàn): Tổ chức phân tán thành nhiều Tiểu Đội chiến đấu nhỏ, giữ Cầu Mới Biên Ḥa, giữ Cầu Sắt Biên Ḥa và đặt các nút chận trên đường xâm nhập vào thành phố Biên Ḥa.

    - Chiến Đoàn 315: Bố trí án ngữ từ Ngă Tư Ḷ Than đến ngă Tư Ḷ Than (gần trại Ngô Văn Sáng).

    - Chiến Đoàn 322: Bố trí án ngữ từ Ngă Tư Ḷ Than đến cổng phi trường Biên Ḥa (trừ bị 1).

    - Chiến Đoàn 318: Bố trí án ngữ từ cổng phi trường Biên Ḥa đến Cầu Mới Biên Ḥa (trừ bị 2).

    - Pháo Binh: Kế hoạch yểm trợ hỏa lực.


    - BTLLĐ3KB/Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III: Đặt tại tư dinh Tư Lệnh Quân Đoàn III.

    Vào khoảng 15 giờ 00 ngày 29-4-75, tôi đang ăn cơm trưa với Bộ Tham Mưu trong tư dinh Tư Lệnh Quân Đoàn, th́ th́nh ĺnh chiếc trực thăng chỉ huy của Tướng Toàn đáp xuống băi đáp trong vườn hoa tư dinh bên cạnh chiếc trực thăng chỉ huy của tôi. Thiếu Tá Cơ pilot vào chào tôi và báo cáo cho tôi biết. Sau khi rời Long B́nh, Cơ đưa Toàn và bộ hạ ra Vũng Tàu, nơi đó anh thấy có các Tướng Lăm và Hiệp chờ Tướng Toàn, rồi cả 3 người cùng đi bằng tàu đánh cá ra Hạm Đội Mỹ ở ngoài khơi. Tin Toàn bỏ trốn không làm tôi ngạc nhiên. Anh Cơ xin được ở lại làm việc với tôi. Tôi đồng ư v́ đơn vị trực thăng của anh giờ này không c̣n ở Biên Ḥa nữa.

    Lúc 17 giờ 00 ngày 29-4-75, tôi dùng xe Jeep có hộ tống đi một ṿng quan sát t́nh h́nh trong và chung quanh thành phố Biên Ḥa. T́nh h́nh chung có vẻ yên tĩnh, dân chúng không ra đường, phố xá đóng cửa. Vào khoảng 18 giờ 00, quân cộng sản bắt đầu xâm nhập vào mặt Bắc và Đông Bắc thành phố từ hướng phi trường đụng với quân Biệt Cách Dù và Thủy Quân Lục Chiến. Giao tranh bắt đầu, 1 cánh quân Biệt Động Quân của Chiến Đoàn 315 cũng đụng địch ở gần trại Ngô Văn Sang. Địch bám sát vào tuyến pḥng thủ mặt Bắc và Đông Bắc của quân ta. Hai bên bám trận địa nằm cách nhau 10-15 mét. Cho đến giờ phút này, quân ta chiến đấu vững vàng tự tin. Không có t́nh trạng bỏ ngũ. Dưới sự yểm trợ mạnh mẽ của hỏa lực Thiết Giáp, quân ta đẩy địch ra xa tuyến pḥng thủ.

    Lúc 20 giờ 00 tôi gọi trại Phù Đổng ở Sài G̣n. Nơi đây là Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp Binh và là nơi Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III vừa đặt bản doanh. Có trả lời nhưng không một ai có thẩm quyền để nhận báo cáo của tôi hoặc liên lạc với tôi. Tôi gọi Trung Tâm Hành Quân Bộ Tổng Tham Mưu, không có cách ǵ liên lạc được. Tôi nóng ḷng chờ lệnh của Sài G̣n. Tôi tự hỏi Đại Tướng Dương Văn Minh, tân Tổng Thống, Tổng Tư Lệnh Quân Đội có giải pháp ǵ không? Có lệnh ǵ mới cho chúng tôi không?

    Đến 22 giờ 10 có chuông điện thoại reo, Trung Tướng Nguyễn Hữu Có gọi tôi ở đầu giây: “Tôi là Trung Tướng Có đây, tôi đang ở bên cạnh Đại Tướng, anh cho chúng tôi biết t́nh h́nh ở Biên Ḥa như thế nào?” “Thưa Trung Tướng, tôi giữ thị xă Biên Ḥa, Đảo giữ Long B́nh, Toàn đă bỏ chạy, phi trường Biên Ḥa địch chiếm, áp lực địch rất nặng ở hướng Bắc và Đông Biên Ḥa.” 1, 2, 3 phút trôi qua, ở đầu giây, Tướng Có nói tiếp” “Đại Tướng hỏi anh có thể giữ vững Biên Ḥa đến 08 giờ 00 sáng mai, để Đại Tướng nói chuyện với bên kia được không?” Tôi trả lời không do dự “Được, tôi có thể giữ vững Biên Ḥa đến 08 giờ 00 sáng mai.” Trong máy điện thoại, tôi nghe văng vẳng tiếng nói của Tướng Có báo cáo lại với Đại Tướng Minh. Cuối cùng Tướng Có nói: “Lệnh của Đại Tướng cho anh: Chỉ huy pḥng thủ bảo vệ Biên Ḥa đến 08 giờ 00 sáng ngày 30-4-75. Chúc anh thành công.” Tôi đáp nhận.
    Vào khoảng 23 giờ 45 khuya, địch bắt đầu pháo dữ dội vào thị xă Biên Ḥa, chúng tập trung một lực lượng hỗn hợp bộ binh chiến xa cấp Trung Đoàn từ Ngă Ba Hố Nai – Xa Lộ tấn công về hướng Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III. Chiến Đoàn 315 của Trung Tá Đỗ Đức Thảo xông ra chận địch. Hỏa lực chiến xa M-48 của ta áp đảo địch. Giao tranh quyết liệt. Một số chiến xa địch bị bắn cháy. Địch rút lui.

    Lúc 02 giờ 00 sáng ngày 30-4-75, Tướng Lê Minh Đảo gọi tôi ở đầu máy PC-25: “Báo anh hay tôi bị quân địch tràn ngập, Long B́nh đă bị chúng chiếm.” Tôi liền hỏi: “Anh hiện giờ ở đâu? Có cần ǵ tôi không?” Đảo đáp: “Tôi hiện ở gần nghĩa trang Quân Đội, đang rút đi về hướng Thủ Đức.” Tôi cảm thấy đau buồn và tội nghiệp Đảo vô hạn. Những năm cuối cùng của cuộc chiến, tôi và Đảo rất vất vả. Hai chúng tôi có mặt ở khắp các mặt trận, v́ Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III của tôi là lực lượng cơ động số 1, và SĐ18BB của Đảo là lực lượng cơ động số 2 của Quân Đoàn. Trong tù, bọn cán bộ cộng sản rất để ư đến hai chúng tôi v́ đă gây cho chúng rất nhiều tổn thất nghiêm trọng và chúng coi hai chúng tôi là hai tên chống cộng “điên cuồng” nhất.

    Vào khoảng 03 giờ 30 sáng, địch lại pháo vào Biên Ḥa, lần này chúng pháo rất mạnh và chính xác. Tôi đoán chúng định tấn công dứt điểm Biên Hoà sau khi đă chiếm được Long B́nh. Tôi chuẩn bị sẽ tung cả 3 Chiến Đoàn Thiết Giáp vào trận đánh quyết định, nhưng thật bất ngờ, chúng vừa xuất hiện 1 đoàn chiến xa dẫn đầu, bộ binh theo sau, liền bị Chiến Đoàn 315 đánh chận đầu và bọc sườn, chúng bèn rút chạy ngược ra xa lộ. Kể từ đó, thị xă Biên Ḥa trở nên yên tĩnh.

    Đúng 08 giờ 00 sáng ngày 30-4-75, tôi cố gắng gọi về Bộ Tổng Tham Mưu để liên lạc với Trung Tướng Nguyễn Hữu Có nhưng không được. Tôi liền họp các Lữ Đoàn Trưởng, Liên Đoàn Trưởng, Chiến Đoàn Trưởng và các Đơn Vị Trưởng Yểm Trợ. Chúng tôi trao đổi tin tức và thảo luận t́nh h́nh ở mặt trận, t́nh h́nh trong thành phố Biên Ḥa. Áp lực địch bên ngoài không c̣n nữa. Chung quanh bên ngoài thị xă, chỉ có hoạt động lẻ tẻ của du kích, bên trong thành phố vắng vẻ. Đặc biệt đêm qua, tôi có cho tăng cường canh giữ nhà giam Biên Ḥa. Không có t́nh trạng dân chúng xuống đường hô hào ủng hộ cộng sản. Tôi sung sướng nhất là thấy tinh thần của chiến sĩ ta rất tốt, không có t́nh trạng đào ngũ. Tuyệt nhiên cũng không có t́nh trạng hăm hiếp cướp bóc trong thành phố, các sĩ quan thi hành quân lệnh nghiêm chỉnh. Trong đêm qua có nhiều tốp lính bạn thuộc SĐ18BB ră ngũ định chạy qua thành phố, tôi ra lệnh chận lại, đuổi họ trở ra, cương quyết không cho vào thành phố đang giới nghiêm v́ sợ có t́nh trạng gây mất tinh thần ră ngũ giây truyền như đă xảy ra ở miền Trung trước đây.
    Bây giờ là 08 giờ 30 ngày 30-4-75, tôi kết luận buổi họp: “Biên Ḥa không c̣n là mục tiêu tấn công của địch nữa. Tôi nghĩ rằng giờ này các lực lượng chủ lực cộng sản BV đang tập trung tấn công Sài G̣n. Rơ ràng chúng bỏ Biên Ḥa, dồn lực lượng đánh vào Thủ Đô. Chúng ta mất liên lạc với Bộ Tổng Tham Mưu. Bây giờ tôi quyết định kéo toàn bộ Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III về tiếp cứu Sài G̣n.” Tất cả các Đơn Vị Trưởng ủng hộ quyết định này của tôi.

    Tôi liền ban hành Lệnh Hành Quân và điều động Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III tiến về Sài G̣n theo kế hoạch sau đây: Lấy đường xe lửa Biên Ḥa-Sài G̣n và xa lộ Đại Hàn làm hai trục tiến quân chính.

    a) Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù + Lữ Đoàn 4 Nhảy Dù (-1 Tiểu Đoàn) do Đại Tá Phan Văn Huấn chỉ huy: Tiến bên phải đường sắt hướng Sài G̣n. Đến ngoại ô Bắc Sài G̣n, co cụm lại, bố trí bên phải đường sắt, chờ lệnh.

    b) Lữ Đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến do Trung Tá Liên (TQLC) chỉ huy: Tiến bên trái đường sắt hướng Sài G̣n. Đến ngoại ô Bắc Sài G̣n, co cụm lại, bố trí bên trái đường sắt, chờ lệnh.

    c) Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh + Liên Đoàn 33 Biệt Động Quân: Bố trí yểm trợ quân BCD, ND và TQLC rời vị trí pḥng thủ, rút an toàn qua Câu Mới Biên Ḥa trước. Sau đó, lấy xa lộ Đại Hàn làm trục chính, tiến về Sài G̣n theo thứ tự như sau:

    - Chiến Đoàn 315 do Trung Tá Đỗ Đức Thảo chỉ huy: Đi trước, đến ngoại ô Bắc Sài G̣n, bố trí bên này cầu B́nh Triệu, chờ lệnh.

    - Chiến Đoàn 322 do Trung Tá Nguyễn Văn Liên (TG) chỉ huy: Đi sau CĐ 315, đến ngoại ô Bắc Sài G̣n, bố trí sau CĐ 315, chờ lệnh.

    - Chiến Đoàn 318 do Trung Tá Nguyễn Đức Dương chỉ huy: Đi sau cùng, đến Sài G̣n, bố trí sau BTL và Đơn Vị Yểm Trợ, chờ lệnh.

    Trước khi lên trực thăng Chỉ Huy, tôi duyệt đoàn quân lần cuối. Quân ta từ từ rời thành phố Biên Ḥa trong ṿng trật tự, trang phục chỉnh tề, tác phong nghiêm chỉnh, không hề nao núng, giống y như những lần hành quân trước đây khi c̣n Đại Tướng Đỗ Cao Trí chỉ huy xông trận trên chiến trường Campuchia. Lúc này là 09 giờ 00 ngày 30-4-75.
    Tôi lên trực thăng Chỉ Huy của Tướng Toàn do Thiếu Tá Cơ lái, chiếc trực thăng Chỉ Huy thứ hai bay theo sau. Tôi cho trực thăng bay lượn trên thành phố Biên Ḥa, quan sát thấy t́nh h́nh bên dưới vẫn yên tĩnh. Các cánh quân ta vẫn tiến đều đặn về hướng Sài G̣n. Những ổ kháng cự, những chốt của địch dọc trên trục tiến quân của ta bị đè bẹp hoặc bị nhổ nhanh chóng. Tôi đang suy nghĩ và lo lắng. Tôi lo v́ không liên lạc được với Sài G̣n, khi quân ta về đến nơi, sợ quân bạn ở Biệt Khu Thủ Đô bắn lầm. Tôi đang miên man suy nghĩ cách đối phó th́ đột nhiên Thiếu Tá Cơ hỏi tôi: “Thiếu Tướng có muốn ra đi không? Tôi sẽ đưa Thiếu Tướng đi.” Tôi liền hỏi lại: “C̣n anh th́ sao?” “Khi đưa Thiếu Tướng đi xong, tôi sẽ trở về, tôi sẽ ở lại với vợ con c̣n ở Biên Ḥạ” “Cám ơn anh, tôi cũng ở lại với anh em. Tôi đă quyết định việc này từ lâu rồi.”

    Chúng tôi bay về hướng G̣ Vấp, tôi biểu Cơ lấy cao độ. Xa xa phía dưới, tôi thấy những đoàn quân xa chở đầy quân, những chiến xa, những pháo kéo của quân cộng sản BV như những con rắn dài trên xa lộ Biên Ḥa và trên Quốc Lộ 13 ḅ vô Sài G̣n. Hai trực thăng của chúng tôi đáp xuống trại Phủ Đổng nơi đặt BCH TGB và BTL/Quân Đoàn III. Tôi vội đi vào văn pḥng t́m sĩ quan trực. Tôi thấy các nhân viên văn pḥng chạy qua lại nhớn nhác. Tôi không gặp một ai có thẩm quyền, chỉ có 1 Trung Úy mang huy hiệu Quân Đoàn III, tôi nói tôi muốn sử dụng điện thoại để liên lạc với BTL Biệt Khu Thủ Đô báo cho họ biết gấp các cánh quân của tôi sắp về tới cửa ngơ Bắc Sài G̣n để tránh bắn lầm nhau. Tôi gọi nhiều lần, gọi một cách tuyệt vọng, không có ai ở đầu máy trả lời. Rồi tôi gọi Trung Tâm Hành Quân Bộ Tổng Tham Mưu, cũng không liên lạc được. Lúc bấy giờ tôi nghe nhiều loạt đạn pháo binh địch nổ ở hướng sân bay TSN. Giờ này, các cánh quân Thiết Giáp của tôi cũng vừa đến B́nh Triệu gần khu nhà thờ Fatima.

    Trong khi tôi đang lúng túng trong việc liên lạc với BKTĐ và Bộ Tổng Tham Mưu, th́ th́nh ĺnh tôi nghe lời kêu gọi ngưng chiến đấu của Tổng Thống Dương Văn Minh phát ra từ một máy thu thanh đâu đấy. Tôi nh́n đồng hồ tay: 10 giờ 25 phút.

    Thế là hết. Kể từ giờ phút này, tôi tự chấm dứt quyền chỉ huy của ḿnh và xem nhiệm vụ của LĐ3KB và Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III đến đây là kết thúc. Tôi để cho các đơn vị tự động buông vũ khí đầu hàng theo lệnh của Tổng Thống. Tôi không có ǵ để nói thêm, chỉ thầm cám ơn tất cả các chiến hữu đă cùng tôi chiến đấu đến phút cuối cùng của cuộc chiến và cùng tôi giữ tṛn khí tiết của người chiến sĩ đối với Quân Đội và Tổ Quốc.

    3. Quan Điểm và Kết Luận

    Sau khi ngưng chiến theo lệnh của Tổng Thống Dương Văn Minh, tôi bị địch bắt, truy vấn, tù đầy 17 năm và sang Mỹ năm 1993 theo diện tỵ nạn chính trị. Mỗi năm cứ đến ngày 30-4, tôi đọc đi đọc lại nhiều bài viết của bên Cộng Sản cũng như của bên ta về cuộc chiến tranh Việt Nam. Có không ít bài viết lờ mờ hoặc viết sai về một số sự kiện trong cuộc chiến. Đặc biết khi viết về Biên Ḥa th́ không có bên nào nói đúng. Ai cũng biết Biên Ḥa là vị trí chiến lược số 1 của MNVN, phi trường Biên Ḥa c̣n là nơi đặt bản doanh BTL/Quân Đoàn III và V3CT, đầu năo của bộ máy quân sự miền Đông. Biên Ḥa là cửa ngơ quan trọng bậc nhất ở phía Bắc thủ đô Sài G̣n. Để mất Biên Ḥa là mất Sài G̣n, mất miền Nam Việt Nam. Nhưng cho đến bây giờ, tôi chưa thấy một tài liệu nào nói rơ về Biên Ḥa trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh VN. Thế mà tôi vẫn giữ im lặng cho đến ngày hôm nay, v́ nghĩ rằng cuối cùng rồi sự thật lịch sử cũng được phơi bày. Vả lại khi viết về cuộc chiến tranh mà ḿnh là nhân chứng trực tiếp, không khỏi phải nói nhiều rất nhiều về ḿnh, cái mà tôi không hề thích v́ như Pascal nói: “Cái tôi là đáng ghét” (Le moi est haissable). Nhưng anh Nguyễn Minh Tánh đă viết sai sự thật về LĐ3KB do tôi chỉ huy, đă xúc phạm đến DANH DỰ của chúng tôi nên tôi có bổn phận với những ngưỡi đă hy sinh và những người c̣n sống, phải cải chính và nói lại cho rơ để không phụ ḷng những chiến sĩ anh hùng đă cùng tôi chấp nhận ở lại chiến đấu đến cùng.

    Những năm đầu trong ngục tù, cán bộ Cộng Sản luôn truy vấn tôi kịch liệt. Chúng làm tổng kết chiến tranh để rút kinh nghiệm chiến trường, chúng ngạc nhiên trước sức chiến đấu của LĐ3KB và Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III, đặc biết chúng bắt tôi viết đề tài Những nguyên nhân nào mà LĐ3KB và Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III do tôi chỉ huy không bị tan ră trước sức tấn công của Quân Đội Cách Mạng.

    Chính miệng chúng nói với tôi: “Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III là đại đơn vị duy nhất của Quân Đội Sài G̣n chiến đấu tới cùng cho đến khi có lệnh ngưng bắn.” Chúng kể ra những thành tích chiến đấu của Chiến Đoàn 318 trên chiến trường Campuchia thời Tướng Đỗ Cao Trí của LĐ3KB và Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III mà chúng gọi là những tội ác “Trời không dung Đất không tha” và kết tội tôi đă kéo dài chiến tranh nhiều năm.
    Chúng đă chọn và định đưa một số chúng tôi ra Ṭa Án Chiến Tranh của chúng xét xử như những tội phạm chiến tranh nếu không có áp lực mạnh mẽ của Hoa Kỳ và Cộng Đồng thế giới tự do cũng như của dư luận Quốc Tế lúc bấy giờ.

    Tôi không hề ân hận việc ḿnh đă làm, không hề hối tiếc hay than van về những hậu quả mà ḿnh phải gánh chịu sau khi bị bắt. Nếu phải làm lại từ đầu, th́ tôi cũng vẫn làm như thế. Tôi biết rằng làm như thế là tôi mất tất cả, mất tất cả trừ DANH DỰ.



    Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi
    Virginia ngày 16/6/1995
    Last edited by Nguyen Hung Kiet; 21-06-2011 at 04:29 AM.

  2. #9
    Join Date
    30-08-2010
    Posts
    2,898

      Fighting To The Finish -Chiến Đấu Đến Cùng
      

    Fighting To The Finish ( bản tiếng Mỹ )
    The Role of South Viet Nam's III Armor Brigade
    and III Corps Assault Force in the War's Final Days














    BRIGADIER GENERAL TRAN QUANG KHOI


    During the final days of the Viet Nam War, I commanded the ARVN III Armor Brigade and III Corps Assault Task Force (ATF) throughout III Corps Tactical Zone and in defense of the City of Bien Hoa against the final Communist offensive in South Viet Nam. For twenty years since the fall of South Viet Nam on 30 April 1975, I have read many articles by both Communist and Free-World writers. Many of them are ambiguous or inexact, especially when referring to actions east of and in Bien Hoa. Some even distort the truth and wound the honor of III Armor Brigade/III Corps ATF, so I have an obligation to both the living and the dead to correct the record so as not to be ungrateful to the heroes who willingly followed me and fought to the very last minute of the war.

    The Early Days

    From 1970 on, there were four armor brigades, one per corps. Each headquarters was highly mobile track-mounted, packed with radio gear, and manned by a carefully selected, battle-tested staff. Designed to control up to six maneuver battalions (a division has nine) the brigade had no organic units but were "task organized" by their corps commanders according to the mission at hand: sometimes with as many as 19 battalions!

    III Armor Brigade headquarters was activated in November 1970 and, after intensive training with a U.S. advisory team headed by LTC. C.M. Crawford, with Maj Racine, Cpt Waer, and others, was declared combat ready and assigned to III Corps for employment in January 1971. Task-organized with the 15th and 18th Armored Cavalry Squadrons and a variety of infantry, artillery, and supporting units, it was the core and frame of LTG Do Cao Tri's III Corps ATF, established to meet battle-field demands in Cambodia. The ATF was the corps' combined-arms reserve. When reinforced for violent combat, its strengthand capability were equivalent to a mechanized division. It operated either alone or with the ARVN's 5th, 18th, or 25th Infantry Divisions. Wherever there was heavy combat in the III Corps Tactical Zone, the ATF was always present.

    The Task Force crossed swords many times with the North Vietnamese Army's (NVA) 5th, 7th and 9th Infantry Divisions, both in Cambodia and Viet Nam. It rescued from destruction the 5th Ranger TF at Chlong and Dambe in February and March 1971, the 8th Regimental Combat Team(RCT) of the 5th Infantry Division at Snoul in June 1971, and the 30th Ranger Battalion at Alpha Base, six km east of Krek plantation, in November 1971.

    The tragic death of General Do Cao Tri in a helicopter crash in February 1971 marked the turning point of the war in South Viet Nam. LTG Nguyen Van Minh, succeeding General Tri as III Corps Commander, made mistake after mistake from the very start. He and I differed on many points regarding the conduct of operations in Cambodia. Because of his weakness, we suffered many setbacks and, little by little, lost the initiative to the enemy. Often, I could not help arguing with him, and our relationship became more and more tense. After the victory near Krek in November 1971, I made up my mind to apply for admission to the U.S. Army's Command and General Staff College at Fort Leavenworth, Kansas.

    From 1972 to 1973, I went to the U.S. to complete my advanced military education. Shortly after my departure, General Minh dispersed the resources of the III Armor Brigade and completely disbanded the III Corps ATF. When the battle of An Loc - Binh Long broke out violently during the summer of 1972, the Armor units of III Corps were completely paralyzed.

    When I returned to Viet Nam in 1973, LTG Pham Quoc Thuan had replace General Minh. He insisted that I rejoined III Armor Brigade. I resumed command of the brigade on 7 November 1973 and suggested to the new corps commander that III Corps ATF be reestablished according to General Tri's model. He gave me complete authority for this task. I reassembled dispersed armor units and, with the new M48 medium tanks of 22d Armor and M548 tracked cargo carriers to transport fuel and ammunition, I changed the composition of Armor units and improved the mobility of 105mm towed artillery units.

    The 15th and 18th Armored Cavalry Squadrons had had their M41A3 light tank troops reassigned during my absence. They had five M113-equipped Armored Cavalry Assault Troops (ACATs) when I returned. I shifted men and equipment to squeeze a sixth ACAT out of available resources.

    The recently fielded M48 tank battalion (22d Armor) was identical to the U.S. tank battalion of that time: three 17-tank companies plus three command tanks for a total of 54. I reduced their platoons from five tanks to three (easier for a platoon leader to control) which, with two command tanks, made eleven per company. I was then able to activate a fourth tank company which with three battalion-level command tanks, gave a total of 47, with seven of the original tanks left over as a supply reserve.

    Reinforcement from III Corps were 33rd Ranger Group, 46th Artillery Battalion (155mm towed), 61st Artillery Battalion (105mm towed), and 302d Engineer Battalion.

    The 105 mm towed artillery battalion was converted to "self-propelled" by mounting the howitzers on M548 tracked cargo carriers. Each M548 was modified by adding two rmovable ramps for the 105s to mount and dismount. Each 105 crew was trained to mount and dismount its howitzer and fire as quickly as possible. The result was a unit almost as effective as a truly self-propelled battalion.

    III Corps ATF was organized into three sub task forces, 315, 318, and 322, based on the 15th and 18th Cavalry and 22d Armor. Each had two ACATs, one M48 medium tank company, one Ranger battalion, one track-mounted 105 battery, and one engineer platoon.

    Under III Corps ATF control was the 33d Ranger Group HQ, with its own reconnaissance company and 105 battery, an M48 tank company, the 46th Artillery Battalion (155mm towed), the 302d Engineer Battalion (-) and a logistics company from 3d Log Command.

    In addition to intensive combat training, the troops were also educated on the Communism's ideology so they could understand the enemy and his tactics. When all were well prepared both physically and mentally, I reported the ATF to the corps commander as combat ready. On 2 April 1974, III Corps ATF took the enemy by surprise on the border between Cu Chi and Trang Bang Districts, relieving enemy pressure on Bo Cap and Cha Ray outposts. TF 315 inflicted heavy losses on the Viet Cong Tay Son Battalion.

    Near the end of March 1974, the 83d Ranger Battalion at Duc Hue Base near the Cambodian border was surrounded by the NVA 5th Division. A valiant month-long effort by the ARVN 25th Division - attacking, as expected, from east to west inside Viet Nam - failed to break the siege. Even aerial resupply and medevac missions were cut off, and the situation appeared almost hopeless. LTG Thuan asked me for a plan. My plan, to take the enemy from the rear in a cross-border attack, shocked him. He feared that a new incursion into Cambodia would cause problems with the United Nations. I insisted, however, that this was the only hope for success, so he took the plan to President Thieu for approval.

    The actual operation consisted of two phases:


    Deception. On 22 April, III ATF moved from Go Dau Ha to Lai Thieu in Binh Duong Province.

    Attack. III ATF returned to Go Dau Ha, under blackout condition on the night of 28 April. Tanks crossed the river at midnight on rubber rafts provided by the 302d Engineers. The ATF crossed the border and occupied attack positions by 0300 on the 29th. TF 315 made the main attack and TF318 the secondary. TF 322 in reserve followed TF 315. The mission was accomplished by 1 May.
    This relief of the 83rd Ranger Battalion at Duc Hue proved to be the last major ARVN offensive of the war. Severe constraints on ammunition, fuel, and flying hours caused by lack of promised U.S. support allowed no new initiatives. Nevertheless, the NVA 5th Division was never again a threat.

    From late May until November, the ATF supported the 18th and later the 5th Infantry Divisions in their struggle to retake An Dien, Base 82, and Rach Bap in the Iron Triangle.

    On 30 October, LTG Du Quoc Dong replaced General Thuan as III Corps commander. Communist forces became stronger and stronger, and more and more aggressive. Their attacks all over the country flagrantly violated the Paris Peace Agreement. In January 1975, Phuoc Long Province fell into their hands; General Dong resigned; and LTG Nguyen Van Toan, the Chief of Armor, took command of III Corps. Toan, who had commanded II Corps during the Communist Easter Offensive of 1972, promptly set about making his over-worked regular divisions more mobile by assigning all fixed posts to Regional Forces. He also launched periodic sopiling attacks in an attempt to keep the enemy off balance.

    As part of these efforts, III Corps ATF encircled northern Binh Duong Province in February and destroyed the VC Phu Loi Battalion headquarters. It also relieved enemy pressure at Go Dau Ha, Khiem Hanh, and Dau Tieng in March, and on the 25th retook Truong Mit, virtually destroying the VNA 271st Regiment in the process.

    But, especially for 14 days and nights from 11 to 25 April 1975, III Corps ATF reinforced by the 8th Regiment of the 5th Infantry Division fought and stopped a ferocious NVA corps advance near the junction of National Routes 1 and 20 as part of the epic battle of Xuan Loc, the war's bloodiest. At the end of this time, I was forced to use two CBU-55 bombs from Bien Hoa Air Base to rescue the 18th Division's 52d Infantry. We then supported its withdrawal to Long Binh Base....
    Last edited by Nguyen Hung Kiet; 18-06-2011 at 05:36 AM.

  3. #10
    Join Date
    30-08-2010
    Posts
    2,898






    Events developed at a chaotic pace in late April. I and II Corps had disintegrated, all NVA fighting divisions were moving south, and pressure east of Bien Hoa worsened with each passing day. I was invited to join a coup to overthrow President Thieu but refused strongly and publicly declared against it. Bien Hoa Air Base was neutralized by enemy artillery fires and shut down. On 20 April, BG Le Minh Dao's 18th Division finally abandoned its magnificent defense of Xuan Loc and withdrew to Long Binh. On the 21st, President Thieu resigned. From the front on 22 April, I wrote to General Charles Timmes, Assistant to the U.S. Ambassador in Saigon "...I have been engaging with NVA divisions in the vicinity of Dau Giay, Xuan Loc while Congress debates whether or not to give further military assistance of 300 million dollars to the ARVN. I think the situation is almost hopeless. Even if Congress approves the funding now, it is too late. Neverthelesss, I and my fellow soldiers have decided to stay and fight until the very end. My only request is that you would help my family migrate to a safe location..."

    II Armor Brigade and III Corps ATF. The Last Five Days of the Viet Nam War

    After five days of recuperation, the 18th Infantry Division was ordered to move east on 25 April and replace III Corps ATF on the front line at Hung Loc-Dau Giay. The ATF returned to its base in Bien Hoa for equipment maintenance and rest. The 8th Infantry Regiment returned to its parent unit. That evening, the enemy seized the ARVN Armor School at Long Thanh. On corps order, I immediately sent TF 322 and a Marine Battalion to meet the enemy. They engaged heavily with a strong enemy force supported by tanks, destroying 12 T54 tanks and forcing the enemy to withdraw by midnight. This victory raised the morale and fighting spirit of all combat units in Bien Hoa. After inspecting the battlefield, LTG Toan promised a 1.2 million piastre reward (100,00 piastres per tank) to those who had contributed to the destruction of the T54s. From now on, the ATF became III Corps reserve.

    On 29 April, III Corps ATF was reinforced by the 2d Marine Brigade and 4th Airborne Brigade. At noon, General Toan held an urgent conference at 18th Infantry Division Headquarters in Long Binh. Only General Toan, General Le Minh Dao, and myself were present. Dao was ordered to defend Long Binh and control the Bien Hoa highway. My ATF was to defend the City of Bien Hoa with all Regional and Popular Forces in the area under my control. At that time, Cu Chi had been lost; the 25th Infantry Division had been overrun; and its commander, BG Ly Tong Ba, had been captured. General Toan withheld that information from us, as he was preparing to desert. Dao and I later learned the truth when we met Ba in a Communist concentration camp.

    As the meeting concluded, Colonel Hieu, commander of the 18th Division's 43rd Regiment, burst into the room to report in an emotional tone that the enemy was attacking Trang Bom and his regiment was retreating to Long Binh. General Dao's facial expression changed as he heard the news. General Toan reacted furiously and screamed his orders: Hieu was to take his regiment and return to Trang Bom. He pretended to accept the order, saluted, and left. I knew, however, that the 18th Division could not sustain the front at Trang Bom. It was already weakened by the fighting at Xuan Loc, had had only five days to recuperate, and the inevitable would happen in time.

    General Toan stood up, shook my hand and Dao's, and said, "I wish you both the best of luck in combat. I will fly back to JGS to request support for you." He then turned to me and said, "As for the 1.2 million piastres, I will send someone to deliver the money to your headquarters." These were his last words to me before he deserted.

    As soon as I returned to my headquarters, I held a meeting with my unit commanders. Everyone was present except the Bien Hoa sector commander and his assistant. They had deserted a few days earlier.

    These were my orders as of 1300 hours, 29 April 1975:


    - The City of Bien Hoa is now under martial law. Curfew will be at 1500 hours.

    - Each Regional and Popular Force unit is to stay at its assigned post. No movement is permitted.

    - The Police Force is responsible for the internal safety of the City.

    - Absolutely no one is to enter or leave the City.
    To defend Bien Hoa I organized the following:


    - TF 322 defend the northern sector from the airfield to III Corps headquarters.

    -2d Marine Grigade protect III Corps headquarters with one battalion. Brigade (-) defend the southern sector south of National Route 1.

    - 4th Airborne Grigade secure the new Bien Hoa highway and railroad bridges. Establish blocking positions on all routes of approach.

    - TF 315 defend the eastern sector from the intersection of Bien Hoa Highway and National Route 1 to Lo Than (near Camp Ngo Van Sang).

    - TF 318 asseemble between the main gate of Bien Hoa Air Base and the new Bien Hoa Highway bridge as a reserve. Screen the western sector along the Bien Hoa River.

    - Artilleery support: Fire support plan.

    - ATF Headquarters positioned in the garden of the Corps Commander's Palace.
    Around 1500 hours, while I was having lunch with my staff in the palace, General Toan's helicopter landed next to mine in the garden. His pilot, Major Co, reported that he had flown General Toan and his aides to Vung Tau (Cap St. Jacques) where they were met by LTG Hoang Xuan Lam and BG Phan Hoa Hiep. The generals and their aides then booked a fishing boat to rendezvous with the U.S. fleet at sea. This didn't surprise me. Major Co then asked if he could stay and work for me. I agreed.

    At 1700 hours, I rode in an escorted jeep to inspect inside and outside the city. The people were absent from the streets, and the shops were closed. Everything seemed to be in order.

    At around 1800 hours, the enemy began to infiltrate from the north. They were met by TF 322. A Ranger unit of TF 315 also engaged them near Camp Ngo Van Sang. The enemy hugged close to our positions, and both sides exchanged continous fire fire at a distance of 15-20 meters. Even so, our men fought courageously and confidently. There was no incident of desertion within the ATF. Under strong fire support from Armor strong fire support from Armor units, the enemy was pushed back.

    At 2000 hours, I called Camp Phu Dong near Saigon. This was the location of Armor Command, where III Corps headquarters had settled a couple of days ago. There was an answer, but no one had the authority to receive my report. I then called the Operations Center of the Joint General Staff without avail. Finally, I was forced simply to wait impatiently for further orders from Saigon. I wondered if the new President and commander-in-chief had a solution to this national disaster and if he had any further mission for us.

    Around 2200 hours, I was called by LTG Nguyen Huu Co. He was a former cief of the Joint General Staff and Minister of Defense in 1965. Because of his political differences with then Prime Minsiter Nguyen Cao Ky, he had been forced to resign in 1966. He said, "I am General Co. Right now I am standing next to the President. We want to know your current situation in Bien Hoa." I replied, "I am defending Bien Hoa. Le Minh Dao is defending Long Binh. Nguyen Van Toan has deserted. The airfield has been seized by the enemy. Heavy enemy pressure is coming from the north and northeast."

    A few minutes passed, then General Co said, "The President wants to now whether you can defend Bien Hoa until 0800 tomorrow so that negotiation with the other side can take place." I replied without hesitation, "Yes, I can do that." At the other end of the line I heard General Co's voice reporting to the President. Finally he said to me, "General Khoi, this is your order from the President: Defend the City of Bien Hoa until 0800 hours, 30 April 1975. I wish you good luck." I responded, "Yes, sir."

    Around 2345 hours, the enemy opened heavy artillery fire on the city. Then a regimental-size combined armor-infantry force attacked along National Route 1 from Ho Nai to the III Corps headquarters. TF 315, under LTC Do Duc Thao, engaged them and broke their attack. Many T54 tanks were destroyed, and the enemy retreated.

    At 0200 hours, 30 April, BG Dao of the 18th Infantry Division called me on the radio and sai, "I have been overwhelemed and Long Binh is lost." I asked, "Where are your now? Do you need any help?" He replied, "I am at the National Military Cemetery and retreating toward Thu Duc." I felt very sorry for Dao. During the last two years, he and I had worked very hard together, always on the move, and against time. We had been together at all the battlefield in III Corps Tactical Zone because my ATF was Corps Mobile Force 1 and Dao's 18th Division was Corps Mobile Force 2, according to General Do Cao Tri's SOP. When we were toghter in prison, the Communists kept a close watch on both of us because we had caused the most damage to their forces and were considered the two most anti-Communist "fanatics".

    Around 0300 hours, the enemy bombarded Bien Hoa again. This time their fire was stronger and more accurate. I guessed their intention was to control Bien Hoa at all costs after seizing Long Binh. I was prepareing to engage in this decisive battle with my entire force; but surprisingly, TF 315 stopped their frontal attack, enveloped their left flank, and inflicted serious casualties upon them. They were force to retreat to the Bien Hoa Highway, adn the city returned to calm.

    At exactly 0800 hours, 30 April, I tried to call General Co or the JGS headquarters in Saigon, but to no avail. I then held a conference with all my unit commanders to exchange information concerning the internal and external situation of the city. The enemy had retreated, leaving only minor guerrilla activity outside the city. Inside, it was calm. Everyone stayed indoos in compliance with the curfew, and the streets were deserted. The night before, I had helped the city police with additional manpower to prevent any outbreak from the jail. I was so happy to see that our troops' morale was still high. They had plenty of courage and discipline. There was no rioting, looting, raping, or other activity in the streets. The city was under complete control. Also, the night before, a group of disbanded 18th Division soldiers had tried to enter under curfew. I had ordered them driven out because their presence might have caused major security porblems to the civilians and loss of morale and discipline among our troops leading to chain-reaction disintegration, as had occured last month in the Central Highlands.

    Now it was 0830, I concluded that Bien Hoa was no longer the enemy's objective, he was concentrating all his forces to attack Saigon. We had no communications with any higher headquarters, so I decided to pull out of Bien Hoa and march to rescue the capital. All the unit commanders present supported my decision. I immediately issued an operation order. III Corps ATF was to move toward Saigon as follows:

    a. 4th Airborne Brigade, LTC Lo:


    - Move on the right side of the Bien Hoa-Saigon railroad.

    - At the outskirts of Saigon, deploy to the right of the railroad and await further orders.
    b. 2d Marine Brigade. LTC Lien:


    - Move on the left side of the Bien Hoa-Saigon railroad.

    - At the outskirts of Saigon, deploy on the left side of the railroad and await further orders.
    c. III Corps ATF:


    - Remain in position for support until the Airborne and Marine troops have safely crossed the new Bien Hoa Bridge.

    - Using the Korean Highway as the axis of advance, move toward Saigon in the follwing formation:

    (1) TF 315, LTC Do Duc Thao: Lead the column; Deploy on the near side of the Binh Trieu bridge and await further orders.

    (2) TF 322, LTC Nguyen Van Lien: Follow TF 315; Deploy behind TF 315 at the Binh Trieu bridge and await further orders.

    (3) III Corps ATF and units under direct control: Follow TF 322; Deploy behind TF 322 at the Binh Trieu bridge and await further orders.

    TF 318, LTC Nguyen Duc Duong: Rear guard; Deploy behind ATF Hq at the Binh Trieu bridge and await further orders.
    Before boarding my helicopter, I inspected my troops for the last time. They were departing the City of Bien Hoa in an organized formation. Each man was neatly dressed, of dignified bearing, with a look of self-confidence and resignation on his face, showing no fear. They looked just as proud as they had in earlier times when we fought in Cambodia under General Do Cao Tri. I looked at my watch: it was 0900.

    I boarded General Toan's helicopter, piloted by Major Co. My own helicopter, piloted by Captain Tan, followed. We flew over Bien Hoa at low altitude and saw that the city was still calm and apparently in good order. My forces moved steadily toward Saigon, destroying all enemy blocking positions in their path.

    Then an anxious thought came to mind: what would happen if our forces approaching Saigon were mistaken for the enemy and fired upon? Without communications, this was a great risk to my men. While I was pondering a solution to this problem, Major Co interrupted and asked, "Sir, if you wish to flee the country, I can help you." I replied, "What about you?" he said, "After flying you out there, I will return to my family in Bien Hoa." I responded, "Thanks very much for your concern, but I have decided to stay with my men."

    We flew at high altitude toward the Armor Command and III Corps headquarters in Camp Phu Dong. Far below, I saw a huge concentration of enemy guns, tanks, and troop-carrying trucks stretched out along Bien Hoa Highway and Route 13, like tow long snakes crawling into the Capital. We landed at Camp Phu Dong, and I dashed inside looking for an officer on duty. People were pacing back forth anxiously, and I didn't meet anyone in authority, except a young lieutennt wearing III Corps insignia. I told him that I needed to use the telephone to contact the Capital Military District to inform them that my troops were approaching and shoudl not be fired upon.

    I made countless attempts to contact CMD, but it was hopeless. I then tried calling the JGS Operations Center, also without success. In the meantime, I heard volleys of enemy artillery fire coming from the direction of Tan Son Nhut Air Base. AT that moment my Armor units arrived at the Binh Trieu bridge.

    Then I heard the President's voice on the radio ordering all Republic of Viet Nam Armed Forces to cease fire and surrender. It was 1025 hours, 30 April 1975 by my watch. this was the end. I was most sorry for the outcome of the war, but I had done my best. I let my troops execute the President's final order for themselves: I had nothing more to say. But deep in my heart, I silently thanked all of them for their courage, sacrifice, and dedication until the very last minute of the war. Together, we had fulfilled our obligation and oath of allegiance.

    Conclusion

    I was, of course, arrested by the Communists and held captive in various concentration camps for 17 years. After my release in 1992, I came to the U.S. as a political refugee in 1993.

    During the early years of captivity, I was interrogated intensively. The Communists were puzzled by the effectiveness of III Armor Brigade/III ATF. They studied our organization and operations and made me write an essay entitled "How could III Armor Brigade/III Corps ATF fight unfailingly against the Revolutionary Forces during the Spring Offensive?" They told me that III Corps ATF had been the only ARVN unit to confront them successfully until the last minute of the war.

    Later on, we were transferred from the management of the Communist Ministry of Defense to that of the Ministry of Interior. They investigated our past military activities and were shocked by our exploits, which they regarded as war crimes. They accused me of prolonging the war for years, and, along with the other commanding generals, I was selected to be prosecuted as a war criminal. Fortunnately, the U.S. the UN, and the international media intervened on our behalf.

    I shall never repent having done what I did, nor complain about the consequences of my captivity. If history were to repeat itself, I would choose the same path. By so doing, I know from experience that I would lose everything but HONOR.


    Brigadier General Tran Quang Khoi
    Last edited by Nguyen Hung Kiet; 18-06-2011 at 05:49 AM.

  4. #11
    Join Date
    30-08-2010
    Posts
    2,898

      Brigadier General Trần Quang Khôi ( Tài liệu Lục quân Mỹ Quốc )
      









    BRIGADIER GENERAL TRAN QUANG KHOI



    Brigadier General Trần Quang Khôi was a General of the Army of the Republic of Vietnam. He commanded the ARVN III Armor Brigade and III Corps Assault Task Force (ATF) throughout III Corps Tactical Zone and in defense of the City of Bien Hoa against the final Communist Ho Chi Minh Campaign offensive in South Viet Nam.

    Military education
    Vietnamese National Military Academy
    French Cavalry School
    United States Army Armor School
    U.S. Army Command and General Staff College

    Military service

    He served with the ARVN 5th Cavalry to Xuan Loc.

    His combined-arms Task Force 318 spearheaded the Cambodian Campaign.

    He organized and trained III Armor Brigade and commanded it in Cambodia.

    Tran was captured at the end of the battle and spent 17 years in a re-education camp. In 1992, he was released and in 1993, he received political asylum from the United States.

    Quotes

    I was most sorry for the outcome of the war, but I had done my best. I let my troops execute the President's final order for themselves: I had nothing more to say. But deep in my heart, I silently thanked all of them for their courage, sacrifice, and dedication until the very last minute of the war. Together, we had fulfilled our obligation and oath of allegiance.
    I shall never repent having done what I did, nor complain about the consequences of my captivity. If history were to repeat itself, I would choose the same path. By so doing, I know from experience that I would lose everything but HONOR.


    "Brigadier General Tran Quang Khoi graduated from the Vietnamese National Military Academy at Dalat in 1952, the French Cavalry School at Saumur in 1955, and the U.S. Army Armor School at Fort Knox in 1959.

    As senior advisor to the Vietnamese Chief of Armor, I first met him in 1966 when he deployed the ARVN 5th Cavalry to Xuan Loc. I accompanied him on several operations to reconnoiter for the impending arrival of the U.S. 11th ACR.

    In May of 1966, he provided his 1/5 tank troop (M41A3) for airlift to Da Nang ("when Tanks Took Wings," ARMOR, May-June 1994).

    In early 1970, his combined-arms Task Force 318 spearheaded the U.S./VN incursion into Cambodia, earning his Corps Commanding General the sobriquet "The Patton of the Parrot's Beak."

    In November 1970, he organized and trained III Armor Brigade and commanded it in Cambodia, both before and after attending the U.S. Army Command & General Staff College at Fort Leavenworth in 1972-73.

    In 1971-72, I frequently met him in places like An Loc and Loc Ninh as his brigade raced between flash points in Cambodia.

    Released from "Re-education Camp" after 17 years, he now resides in Springfield.VA.

    He is one of the finest Armor leaders I ever met: bold and daring, but not foolhardy, he knew full well how to use mobility and firepower to produce shock even in terrain like Viet Nam's. He also had the imagination and flexibility to task-organize in such a way as to get the most from his available assets. Had Khoi been a tank battalion commander in Third Army during World War II, General Patton would have acknowledged two peers: Creighton Abrams and Tran Quang Khoi.


    Raymond R. Battreall
    Col., Armor (Ret)
    (Armor, March-April 1996)
    Last edited by Nguyen Hung Kiet; 18-06-2011 at 05:50 AM.

  5. #12
    Join Date
    30-08-2010
    Posts
    2,898

      VINH DANH TƯỚNG QUÂN TRẦN QUANG KHÔI VÀ QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ GIỜ THỨ 25
      











    Last edited by Nguyen Hung Kiet; 18-06-2011 at 05:42 AM.

  6. #13
    Join Date
    15-08-2010
    Location
    USA
    Posts
    790

      Phù Hiệu Lữ Đoàn lll Kỵ Binh
      

    Kính anh NHK,
    Phù hiệu trên là của Trường TG,
    Xin cung cấp anh cái PH của LĐ lll KB, như dưới
    HK

    Last edited by hatka; 18-06-2011 at 11:53 AM.

  7. #14
    Join Date
    30-08-2010
    Posts
    2,898

      Chân thành Cám Ơn Anh Hatka
      

    Chân thành Cám Ơn Anh Hatka thật nhiều !

    Tôi đang chỉnh sửa !

    Trân trọng

    Nguyễn Hùng Kiệt

+ Reply to Thread

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

     

Similar Threads

  1. VINH DANH QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ
    By Tigon in forum Tiêu Điểm
    Replies: 37
    Last Post: 12-06-2012, 06:35 AM
  2. Replies: 28
    Last Post: 16-07-2011, 04:58 AM
  3. Replies: 10
    Last Post: 18-06-2011, 04:04 PM
  4. THƯ MỜI THAM DỰ ĐÊM VĂN NGHỆ VINH DANH CHIẾN SĨ QUÂN LỰC VNCH
    By NguyễnQuân in forum Thông Báo Cộng Đồng
    Replies: 0
    Last Post: 12-06-2011, 07:25 AM
  5. Replies: 0
    Last Post: 17-11-2010, 04:08 PM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts